Home | Business | Lyric | Novel | Poem | Recipe | Singer | Video | Member | Favorite | Blog | Shop | QnA | Page | Storage | Invite

 Details:

  You're here » Home : C : Cai Bot
Cái Bớt - Tc Gi? : Mikhail Alexsandrovich Sholokhov
? Email to friends
Views: 112 - Rating: 0.00 - Votes: 0

 « view previous novel view next novel »


Helps stop hair loss
Deep cleans follicles
Controls itching and dandruff
Leaves hair soft and silky


Giúp chặn đứng rụng tóc
Sạch gàu, Hết ngứa
Có được mái tóc mượt mà óng ả



Rejuvenate Dry, Cracked And Scaly Skin, Relieves Itching, Burning And Foot Odor.

Làm mềm da chân bị khô, Nức nẻ
Giúp trị nấm ,Tẩy trùng diệt vi khuẩn. Nguyên nhân dẩn đến ngứa và bị hôi chân

MIKHAIL ALEXSANDROVICH SHOLOKHOV
(Nobel Văn Chương năm 1965)

Mikhail Alexsandrovich Sholokhov sinh năm 1905 tại làng Veshenskaya ,
bên bờ sông Don. Giòng họ ông đã ở đó từ nhiều đờị Cha mẹ Sholokhov tuy nghèo, nhưng vẫn cố gắng gửi ông lên Mạc Tư Khoa ăn học. Đến năm mười lăm tuổi ông trở về quê dạy học, làm nhân viên kiểm tra thực phẩm, làm nhà toán học, sau đó còn làm cả chục nghề khác nhaụ Thời gian ấy, trong làng
chỉ có ông và người cha là đàn ông. Đó là những năm 1920-1923 đẫm máu, và ông đã chứng kiến trước mắt mình ý nghĩa thật sự của cuộc nội chiến.
Ông khởi sự viết từ năm mười tám tuổi và sau đó mau chóng trở thành một trong những nhà văn nổi tiếng của Liên Bang Sô Viết. Cả triệu ấn bản của ông được xuất bản khắp nơi trên thế giớị với số tiền bản quyền khổng lồ, dư thưa cho ông sống nhung lụa trong những thành phố xa hoa, nhưng ông lại chọn cuộc đời êm đềm với vợ tại ngôi làng của cha ông mình bên bờ sông Don. Ông có một trang trại cùng bầy gia súc nho nhỏ, và ông rất an vui hưởng cuộc sống
điền viên của mình. Thời gian rảnh rỗi, ông còn đi săn và câu cá.
Dù được tôn suy là anh hùng Sô Viết, Sholokhov vẫn liên tục khẳng định và đòi hỏi quyền độc lập qua các tác phẩm của mình và sự thách đố thẳng thừng đối với quan điểm của chủ nghĩa Cộng Sản và nền văn chương độc tài Sô Viết. Do đó ông là một trong những nhà văn Nga từng biện hộ cho Boris Pasternak trong cuộc luận chiến về tác phẩm Dr. Zhivago . Sholokhov gia nhập Hồng Quân Liên Sô năm 1920, và trở về quê nhà năm 1924 tại ngôi làng của người dân Cossak bên bờ sông Don, miền nam nước Ngạ Ông gia nhập đảng Cộng Sản Liên Sô
năm 1932 và năm 1961 là thành viên Ủy Ban Trung Ương. Ông từng tháp tùng lãnh tụ Sô Viết Nikita Khrushchev trong chuyến thăm Hoa Kỳ năm 1959.
Tác phẩm đầu tiên của ông là tuyển tập Donskie Rassskazy (1926) (Những Mẩu Chuyện Bên Bờ Sông Don). Năm 1925, ông bắt đầu viết bộ Tiểu thuyết lừng danh Tikhy Don (Sông Don Êm Đềm). Quá trình sáng tác của ông tuy chậm nhưng đạt kết quả phi thường. Phải mất mười hai năm để hoàn tất Tikhy
Don (1928-1940). Tác phẩm gồm bốn tập, chia thành hai phần. Sau đó, ông dành suốt hai mươi tám năm để hoàn tất bộ tiểu thuyết nổi tiếng khác, Pondnyataya Tselima (1932-1960) gồm hai phần , Đất Vỡ Hoang và Mùa Gặt Trên Giòng Sông Don. Ngoài ra còn có Oni Srazhalis Za Rodinu (1942) (Họ Chiến Đấu Cho Tổ Quốc, tác phẩm là thiên anh hùng ca về người dân Sô Viết
trong cuộc chiến chống quân Đức xâm lăng vào Thế Chiến Thứ Hai . Tác phẩm nổi tiếng vang dội khác của Sholokhov, Tikhy Don (Sông Don Êm Đềm) phản ánh người dân Cossak anh dũng bên bờ sông Don và cuộc chiến chống quân Bolshevicks để dành độc lập. Tác phẩm đươc giải Prize năm 1941, và còn được phong hiệu là tấm gương vẻ vang cho nền Xã Hội Hiện Thực.
Năm 1965, Sholokhov được giải Nobel Văn Chương. Ông vinh dự là người đầu tiên trong khối Liên Bang Sô Viết nhận được giải thưởng Nobel. Ngoài ra ông còn nhận được các giải thưởng khác như, The Order of Lenin năm 1955 và The Lenin Prize năm 1960.

(Nguyệt Trinh dịch)
+++++++++++++++++

Chúng ta cùng thưởng thức hai truyện ngắn sau đây của ông, hãy cùng nhìn nội dung truyện trong tinh thần Nhân Bản và loại bỏ những Ý Thức Hệ, những chủ nghĩa đối nghịch nhau để thấy những mâu thuẫn, những đau thương tột cùng của con người phải gánh chịu trong bất cứ cuộc nội chiến nàọ

Xì Trum.

++++++++++++++++++

Trên mặt bàn, mấy chiếc vỏ đạn khét lẹt mùi thuốc súng, con xúc xắc làm bằng xương cừu, tấm bản đồ dã chiến, bàn thông báo, bộ Dây cương với riềm tua trang trí bằng kim loại sực mùi mồ hôi ngựa và một góc bánh mì. Tất cả những thứ đó đặt trên bàn, còn Nhicônca Côsêvôi chỉ huyđội kỵ binh, ngồi trên chiếc ghế dài đẽo bằng gỗ đãmốc meo vì tường ẩm, tựa lưng sát bệ cửa sổ. Cây bút
chì kẹp giữa mấy ngón tay tê giá, cứng đờ. Bên cạnh những tờ tranh áp phích cũ trải trên mặt bàn có bản khai lý lịch đang viết dở. Tờ giấy sù sì ấy giới thiệu rất ngắn gọn: Côsêvôi Nhicôlaị chỉ huy đội kỵ Binh, làm ruộng, đoàn viên Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Ngạ
Trước cột " tuổi " cây bút chì chậm rãi ghi: 18 tuổi .
Nhicônca có đôi vai rộng, nom anh chẳng hợp với tuổi tác.
Đôi mắt với những nếp nhăn và cái lưng gù như ông cụ làm anh trông già đị
- Anh ấy chỉ là chú nhóc búng ra sữa, non choẹt, anh em trong đơn vị kỵ binh thường nói đùa như vậy! ấy thế mà đố tìm được ai như anh đấy; diệt được hai băng phỉ mà hầu như không bị thiệt hại gì, và suốt nửa năm trời dẫn đội kỵ binh lao vào các trận đánh và giao chiến, chẳng thua kém bất kỳ vị chỉ huy già dặn nào!
Nhicônca thấy xấu hổ vì cái tuổi mười tám của mình. Bao giờ cũng vậy, hễ đến cái cột "tuổi" đáng ghét kia là cây bút chì ghi chậm lại, như bò trên giấy, còn hai gò má của Nhicôn ca thì cứ đỏ ửng lên, như tức tối điều gì.
Bố Nhicônca là người Kadắc và tổ tiên bố anh cũng là dân Kadắc. Anh còn nhớ mang máng khi anh lên năm, sáu tuổi, bố anh thường đặt anh lên lưng con ng+.a chiến của mình.
- Cu con hãy bám lấy bờm! giọng ông ta cất to, còn bà mẹ thì từ trong bếp mặt tái xanh, mỉm cười với Nhicônca và giương tròn hai mắt nhìn đôi chân nhỏ xíu đang quắp chặt lấy cái
sống lưng nhọn của con ngựa, rồi lại nhìn người bố đang
giữ dây cương.
Chuyện xảy ra đã lâu lắm rồị Bố Nhicônca lao vào cuộc
chiếntranh chống bọn Đức, và mất tích. Không thấy tăm hơi
gì nữạ Bà mẹ qua đời, Nhicônca thừa hưởng ở bố cái
tính yêu quý ngựa, trí dũng cảm vô song và cũng có cái bớt
giống hệt bố, to bằng quả trứng chim câu nằm phía trên ma
('t cá chân tráị Chưa đầy mười lăm tuổi, anh đã lang bạt
nay đây mai đó đi làm thuê, rồi sau xin đượcchiếc áo da
lính và theo trung đoàn Hồng Quân qua làng đi đánh bọn Vraghen.
Mùa hè này Nhicônca cùng tắm ở sông Đông với cậu chính
ủỵ Cậu ta ngoẹo cái đầu bị chấn thương, vừ vỗ vào cái
lưng gù rám nắng của Nhicônca, vừ nói lắp:
- Cậu ấy à? Cậủ Cậu là thằng tốt? tốt số đấy! Thật
mà, cậu là thằng tốt số! Người ta b ảo cái bớt là
tướng tốt số đấy!
Nhicônca nhe răng, ngụp xuống nước, rôi vừa thở phì phì,
vừa ngoi lên khỏi mặt nước nói to:
- Cậu chỉ bốc phét, cái anh chàng kỳ quặc này! Mình côi cút
từ bé, cả cuộc đời đi làm thuê, mà lại bảo là mình tốt
số!...
Rồi Nhicônca bơi ra doi cát vàng bao quanh con sông Đông.
*

Căn nhà, nơi Nhicônca đóng quân ở nhờ, nằm trên bờ dốc
đứng sông Đông. Từ những ô cửa sổ, nhìn thấy rõ một
dải sông Đông màu xanh lam, một mặt nước sóng sánh óng lên
như lớp thép láng đen. Những đêm giông bão, sóng vỗ oằm
oạp dưới chân bờ dốc, những tấm ván che cửa sổ buồn bã
sụt sùị Nhicônca có cảm giác nước đang lẹ Làng luồn vào
những khe hở của nền nhà va dâng lên dần, lay động căn
nhà.
Anh muốn chuyển sang căn nhà khác, nhưng rồi lại thôi và ở
đây đến tận mùa thụ Một buổi sớm giá lạnh, Nhicônca
bước ra thềm nhà, tiếng giày đinh cồm cộp phá vỡ bầu
không khí tĩnh mịch mỏng manh. Anh đi xuống khu vườn anh đào
nhỏ Và ngả mình trên đám cỏ ướt trắng sương đêm. Anh nghe
rõ tiếng bà chủ trong nhà kho đang vỗ về con bò cái cho nó
đứng yên, tiếng bê con khàn khàn vòi vĩnh, và những tia sưa
chảy va vào thành bình kêu lanh canh.
Ngoài sân, cánh cửa rào kêu ken két, có tiếng chó sủạ Nghe
thấy giọng trung đội trưởng nói:
- Thủ trưởng có nhà không?
Nhicônca trống khủy tay nhỏm dậỵ
-Tôi đây! Lại có chuyện gì ngoài đó hả ?
- Có người đưa thư hỏa tốc từ trong xã Kadắc tớị
Anh ta nói bọn phỉ đã xuyên qua khu Xanxki, chiếm nông trường
quốc doanh Gorusinxki rồỉ
- Dẫn anh ta vào đây !
Người đưa thư kéo con ngựa đầm đìa mồ hôi nóng hổi về
phía tàu ngựạ Đến giữa sân, nó khuỵu hai chân trước rồi
ngã kềnh ra, thở phì phì từng hơi đứt quãng rồi nằm
chết luôn, đôi mắt lờ đờ của nó còn nhìn trừng trừng
con cho xích đang sủa một cách tức tốị Nó chết vì người
đưa thư đã chở chiếc bao thư có đóng ba dấu chữ thập,
nó phóng vượt bốn chục dặm đường, thẳng một lèo không
nghỉ chân.
Đọc xong lá thư của ông chủ tịch yêu cầu anh đưa đội kỵ
binh đến ứng cứu, Nhicônca đi vào phòng, vừa đeo kiếm vừa
suy nghĩ, vẻ mệt mỏi: " Giá được đi dâu học, nhưng đây lại
có phỉ... Cậu chính ủy chả vẫn kê mình rằng chữ nghĩa
viết chẳng nên thân mà cũng là chỉ huy kỵ binh? Mình đây co
'lỗi gì, nếu chưa kịp học xong trường tiểu học? Tay ấy kỳ
cục thật? Giờlại có phỉ... Máu lại đổ, mà sống thế này
mình đã mệt mỏi lắm? Mọi thứ đều chán ngán lắm rồỉ"
Anh bước ra thềm, vừa đi vừa nạp đạn vào khẩu cácbin,
nhưng những ý nghĩ, như ngựa quen đường cũ lại vụt đến
với anh: "Giá được về thành phố? Được đi học?"
Anh đi ngang qua con ngựa chết, vào tau ngựạ Nhìn vệt máu đen
rỉ ra từ hai cánh mũi bám đầy bụi của nó, anh quay mặt đi
chỗ khác.
*

Dọc theo con đường mùa hè và những vết xe bị Gió xói mòn
là những đám cỏ màu lông chuột mọc xoắn xít, những bụi
tần lê và ngưu bàng xoè tán um tùm. Trên con đường này,
trước đây người ta vẫn chở cỏ khô đến các kho lúa nằm
im trên thảo nguyên ánh lên màu hồ phách, còn con đường mòn
nằm trải dài đã được vun thành những gò đất dưới
những cột điện báọ Hàng cột điện chạy vút vào trong đám
sương mù trắng đục của mùa thu, băng qua các khe lạch. Gã thủ
lĩnh dẫn năm chục tên Kadắc vùng sông Đông và Cuban, những
kẻ bất mãn với chính quyền Sô Viết, theo con đường bóng
nhẫy, đi qua những hàng cột điện nàỵ Đã ba ngày đêm, như
con sói bị đàn cừu làm cho một phen điên đảo, chúng rút
chạy theo con đường băng qua vùng đất hoang không có đường
xá. Bám sát sau lưng chúng là đơn vị Côsêvôị
Toán phỉ gồm những kẻ bất trị, những tên lính từng trải,
song thủ lĩnh của chúng cứ phải suy nghĩ rất lung: y rướn
người đứng trên bàn đạp, hai mắt bao quát nhìn thảo nguyên,
ước tính quãng đường đi tới rìa rừng màu xanh nhạt trải
dài bên kia bờ sông Đông.
Cứ thế, bọn chúng rút đi như bầy sói, còn đội kỵ binh của
Nhicônca Côsêvôi vẫn lần theo vết chân phía sau chúng.
Vào những ngày hè đẹp trời, trên các thảo nguyên vùng sông
Đông những bông lúa mì đung đưa reo vui xao xác dưới bầu
trời trong suốt. Cảnh ấy có trước mùa cắt cỏ, khi những
sợi râu tơ trên bông lúa mì chắc hạt đen sẫm lại, tựa
đám ria mép lún phún trên khuôn mặt chàng trai mười bảỵ Cây
lúa lớn như thổi và vươn cao vượt cả đầu ngườị
Những người Kadắc để râu ở trong bản khoanh những vạt
ruộng, gieo lúa mạch trên đất sét, trên những đồi cát và
ở ngay mặt đất gần cánh rừng. Chưa bao giờ lúa ấy có
thời sinh sôi nảy nở; từ bao đời nay, một hécta không thu
nổi trên ba chục pút thóc, nhưng người ta vần gieo lúa, vì
rượu cất bằng lúa trong hơn cả nước mắt thiếu nữ; và
bởi lẽ xưa nay đều thế cả; đời ông, đời cụ đều uống
rượu, nên trên huy hiệu của dân Kadắc thuộc khu quân quản
sông Đông chẳng phải ngẫu nhiên lại có hình vẽ anh chàng Kada
("c say mềm, cởi trần, ngồi trên thùng rượụ Cứ đến mùa
thu, các thôn, bản+đều đều say khướt cờ bợ, dân bản lang
thang khắp chốn, những chiếc mũ lông cao chóp đỏ lảo đảo,
ngật ngưỡng ở phía trên những hàng giậu bằng cành liễu
cát.
Chính vì thế mà thủ lĩnh của đám phỉ không có lấy một
ngày tỉnh rượu, vì thế mà tất cả đám đánh xe và bọn lính
bắn súng máy đều say khướt, ngồi vẹo sườn trên các cỗ
xe ngựa có nhíp, chở súng máỵ
Đã bảy năm nay, thủ lĩnh phỉ không nhìn thấy quê hương của
mình. Là tù inh Đức, sau đó theo Vraghen, rồi qua
Cônxtanchinôpôn trời oi ả, trại giam giữa hàng rào dây thép
gai, bôn ba trên tàu buôn nhỏ Thổ Nhĩ Kỳ ngâm nước biển ma
(.n nồng và phả mùi nhựa trét, ẩn náu trong bãi lau sậy ở
Cuban, và cuối cùng làm phỉ.
Thế đấy, nếu nhìn về quá khứ, cuộc đời của gã thủ
lĩnh phỉ là như vậỵ Tâm hồn y trở nên chai đá, như những
vết móng chân bò tách đôi bên bãi lầy trên thảo nguyên bị
cái nóng hè thiêu đốt làm rắn đanh lạị Một nỗi đau tê
tái, không sao hiểu nổi cắn rứt tâm can, làm rã rượi các
thớ thịt, và tên thủ lĩnh phỉ cảm thấy không thể nào quên
đi được nỗi đau ấy, và cũng không có thứ rượu nào dập
tắt nổi nó. Thế nhưng y vẫn uống và không có lấy một
ngày tỉnh rượu, bởi lẽ những cây lúa mạch đang trổ bông
thơm nức, ngọt ngào trên các vùng thảo nguyên sông Đông đã
được cày vỡ một lớp đất đen phơi dưới nắng mặt
trời, và trong các thôn, bản, những người vợ lính Kadắc có
đôi má rám nắng đều cất một thứ rượu trong đến mức
không thể phânbiệt được với mạch nước nguồn chảy rạ
*

Những trận rét đầu mùa đã về lúc rạng đông. Trên các lá
cây sung hình chân vịt đã điểm những đốm trắng bạc, còn
trên guồng bánh xe của côi xay nước thì từ sáng sớm, Lukich
đã để ý thấy những lớp băng mỏng ngũ sắc như mi cạ
Từ sáng, Lukich đã thấy trong người khó chịu, đau buốt vùng
thắt lưng, nhức nhối quá, đôi chân cứng lại như đúc ba
(`ng gang và lệt xệt nhấc lên không nổị Lão lê bước quanh
cối xay kê thoăn thoắt bò ra; lão ngước đôi mắt ướt
nhoèn nhìn lên; trên xà ngang phía dưới trần nhà, một chú
bồ câu đang gáy lên gù gù, đều đặn và cần mẫn. Hai cánh
mũi dường như nặn bằng đất sét của lão hít hít mùi mốc
ẩm nồng nặc và mùi thơm của lúa mạch đã xay giã. Lão chăm
chú nghe tiếng nước óc ách đang cuốn hút và liếm quanh
chiếc ngỗng cối một cách đáng lo ngạị Lão vê vê chòm râu
rậm, vẻ đầy tự lự.
Lukich ngã người trong vườn nuôi ong. Lão nằm nghiêng, đắp
tấm áo bông mà ngủ, mồm há hốc; những giọt nước dãi
nhờn và nóng ẩm từ hai ria mép chảy xuống chòm râu cằm.
Hoàng hôn buông xuống dày đặc làm căn nhà tiêu điều của
lão trở nên nhọ nhem. Chiếc cối xay chìm trong đám sương mù
màu trắng sữả
Vừa lúc lão thức giấc thì có hai tên lính kỵ binh từ trong
rừng đi rạ Một tên gọi lão, giữa lúc lão dang bước trong
vườn nuôi ong:
- Ông già, lại dây !
Lukich nhìn họ với vẻ ngờ vực và dừng lạị Trong những năm
giặc giã lão đã từng thấy nhiều hạng người mang súng ống
như thế này- những kẻ ăn cướp thức ăn gia súc và bột mì
mà khôngthèm hỏi aị Tất cả bọn họ, chẳng trừ một ai, lão
không ưa chút nàọ
- Ra đây mau, lão khọm già !
Lukich luồn lách giữa những thùng ong có đục lỗ, đôi môi
biến sắc lẩm bẩm không thành tiếng. Lão đứng xa chỗ
những người khách và liếc nhìn họ.
- Ông già ơi, chúng tôi là Hồng Quân đâỵ Lão đừng sợ
chúng tôi, thủ lĩnh phỉ cất giọng khàn khàn nói nhã nhặn.
- Bọn tôi đang đuổi phỉ, bị lạc đơn vỉ. Thế hôm qua lão có
trông thấy đơn vị nào qua đây không ?
- Có đấỵ
- Họ đi hướng nào, hở lão ?
- Có mà ôn dịch nào biết họ đi đâu !
- Vậy có ai trong bọn họ nghỉ lại chỗ cối xay của lão không ?
- Không- Lukich nói cụt lủn và quay lưng lạị
- Khoan đã, lão già ! Thủ lĩnh phỉ xuống ngựa, đôi chân vòng
kiềng loạng choạng vì say, miệng thở sặc mùi rượu, y nói:
- Này thằng già, chúng tao đang tìm diệt bọn cộng sản
đâỵ..Thế đấy!...Còn bọn ta là ai, mày không cần biết!... Y
vấp chân, đánh tuột dây cương khỏi tay- Việc của mày là
chạy tìm ngũ cốc cho bảy chục con ngựa ăn và câm cái mồm?.
Làm ngay lập tức! Rõ chưả Lúa mì của mày đâủ
- Không có, - Lukich nói, mắt nhìn đi chỗ khác.
- Thế cái gì trong kho kiả
- Rặt những đồ đồng nát bỏ đi thôi mà. Làm gì có lúa
mì!
- Nào, đi xem đi!
Y túm cổ lão và lôi sềnh sệch đến cái nhà kho đổ nghiêng
lún sâu xuống đất. Y mở toang cửạ trong kho có những vựa
chứa lúa mì và đại mạch.
- Không phải lúa mì thì cái gì đây, hở thằng già khốn
kiếp?
- Dạ, lúa mì để nuôi người ạ, thưa ông- Lúa này đã
được xay giã? Tôi cố nhặt nó từng hạt suốt cả năm, vậy
mà ông muốn đem cho ngựa ăn hết?
- Theo mày thì để mặc xác ngựa của chúng ông chết đói cả
ư ? Sao mày dám như vậy- the o bọn đỏ hả Mày muốn chết à?
- Xin ông tha cho, ông hãy thương tôị Tôi có tội tình gì mà
ông nỡ hại tôỉ- Lukich giật chiếc mũ lông xấu xí ở trên
đầu ra, quỳ sụp xuống, nắm lây đôi bàn tay lông lã của tên
thủ lĩnh phỉ mà hôn?
- Nói đi, mày thích bọn đỏ hả ?
- Xin ông rủ lòng thương, tha cho kẻ đau ốm này!... Ông hãy bỏ
qua lời nói ngu dại của tôị Ôi, xin ông tha cho, đừng treo cổ
tôi! ? lão già vừa nói vừa ôm lấy chân tên thủ lĩnh phỉ.
- Mày hãy thề là mày không theo bọn đỏ...Không phải làm dấu
diếc gì hết, hãy ăn đất đi!
Miệng ông già móm mém hết răng nhai vốc đất cát trong taỵ
- Được, bây giờ thì tao tim màỵ Đứng dậy, lão già!
Và thủ lĩnh phỉ cất tiếng cười, nhìn ông gia không sao
đứng lên được vì đôi chân đã cứng đợ Còn đám lĩnh
kỵ binh mới kéo tới đây thì đang lôi lúa đại mạch và lúa
mì trong nhà kho ra, rắc xuống dưới chân ngựa và vương vãi
khắp sân những hạt ngũ cốc vàng óng.
*

Rặng đông chìm trong đám sương mù vẩn đục.
Lukich lọt qua được người lính gác và lão không đi theo
đường cái mà lần theo con đường mòn trong rừng chỉ Một
mình lão biết, chạy miết về phía bản làng, băng qua cái khe
lạch nhỏ, xuyên cánh rừng như đang cảnh giác trong giấc ngủ
tỉnh táo buổi ban maị
Chạy đến chỗ cối xay gió, lão định tắt qua con đường mòn
ven bờ giậu rẽ ra đường nhỏ, nhưng trước mắt đã thấp
thoáng hiệnra những bóng người cưỡi ngựạ
- Ai đấỷ...- một tiếng hô náo động giữa khung cảnh tĩnh
mịch.
- Tôi đâỷ Lukich nói thều thào, còn toàn thân thì mềmnhũn,
run bắn lên.
- Lão là aỉ Có giấy tờ gì không? Mò mẫm đi dâu, có việc
gì?
- Tôi là thợ xaỷ Từ chỗ cối xay nước vùng này tớị Tôi
có việc cần vào bản.
- Việc với vủng gì? Thôi hãy theo chúng tôi đến gặp chỉ
huy! Lão đi lên trước!...- một người vưa quát, vừa thúc
ngựạ
Lukich cảm thấy đôi môi ngựa nóng ẩm kề sát cổ mình và
lão khập khiễng rảo bước đi vào bản.
Họ dừng lại trên bãi đất cạnh ngôi nhà lợp ngóị Người
dẫn đường đằng hắng, xuống ngựa, buộc ngựa vào hàng
rào và khua xủng xoảng thanh kiếm, bước lên bậc thềm.
- Theo tôi!...
Ánh lửa lập loè rọi qua các ô cửa sổ. Họ bước vào nhà.
Lukich hắt hơi vì sặc khói thuốc lá sợi, ngả mũ và hướng
về góc nhà có bức tượng thánh hối hả làm dấụ
- Chúng tôi bắt giữ ông già này đâỵ Ông lão đi vào bản.
Nhicônca ngẩng cái đầu bù xù dính đầy lông chim lên khỏi
mặt bàn, hỏi với giọng ngái ngủ, nhưng nghiêm nghị:
- Lão đi đâủ
Lukich bước lên phía trước và sung sướng nghẹn lờị
- Anh bạn yêu quý ơi hóa ra ngườicủa ta, vậy mà lão cứ
tưởng lại bọn phỉ đấỷ Lão đâm ra nhút nhát, không dám hỏi
các anh nữả Lão là thợ xaỵ Có lần các anh chị đi qua rừng
Mitơrôkhin đã ghé vào nhà lão, lão còn mời anh uống sữa,
anh bạn thân mến ạ ? Hay là anh quên rồỉ
- Thế lão muốn nói gì nàỏ
- Vâng, lão sẽ nói, anh bạn quý mến của lão ạ: chả là vào
lúc chập tối hôm qua chính bọn phỉ ấy đã kéo đến nhà
lão, lấy sạch ngũ cốc cho ngựa ăn? Chúng hành hạ lãỏThằng
cầm đầu bọn chúng nói: hãy thề một lòng một dạ theo chúng
tao, rồi nó bắt lão ăn đất.
- Thế hiện nay chúng ở đâủ
- Chúng đang ở đó. Chúng đem theo nhiều rượu, bọn bất
lương ấy đang nhậu nhẹt với nhau ở nhà lão, còn lão chạy
tới đây báo cho các anh biết: có thể các anh sẽ tìm được
phương kế trừng trị chúng.
- Anh nói với anh em lên ngựa!... ? Nhicônca đứng lên khỏi
ghế, mỉm cười với ông lão và uể oải xỏ tay vào chiếc áo
dạ lính.
*

Trời đã hừng sáng,
Nhicônca gương mặt xanh xao vì những đêm mất ngủ, phi ngựa
đến gần cỗ xe hai bánh lắp súng máỵ
- Khi nào bọn mình tấn công, câu nã mạnh vào sườn bên phải
nhé. Ta cần bẻ gẫy cánh quân của chúng!
Đoạn anh phóng ngựa đến đơn vị kỵ binh để bày thế trận.
Sau rặng cây sồi nhỏ khô héo, trên mặt đường xuất hiện
một toán lính kỵ binh xếp hàng bốn, những cỗ xe lắp súng
máy đi giữạ
- Phi nước đại!- Nhicônca thét lớn và anh có cảm giác những
tiếng vó ngựa rầm rập mỗi lúc một rõ ở phía sau lưng,
anh quất roi thúc con ngựa đực của mình.
Bốn cửa rừng, tiếng súng máy vang lên xối xả, coàn toán
lính kỵ binh nọ trên mặt đường thì nhanh nhẹn, như trên bãi
tập, tỏa ra bủa vâỵ
*

Từ trong đám cây bị gió bão đánh đổ, một chú sói nhảy
chồm ra gò đất, mình mắc đầy cỏ gaị Nó dướn đầu về
phía trước nghe ngóng. Ngay gần đó, có tiếng súng nổ giòn
giã liên hồi và đủ mọi thứ tiếng của trận đánh dậy lên
như sóng lừng.
Tạch!... một quả đạn nổ giữa bụi cây trăn, còn đâu đó ở
phía bên kia gò đất, sau đám ruộng đã cày vỡ, tiếng vọng
của nó nhanh nhẩu đáp lại: tặc!
Và cứ thế liên hồi: tạch, tạch, tạch! Còn bên kia gò đất
là những tiếng đáp lại: tặc, tặc, tặc!...
Con sói đứng đó một lát rồi thủng thẳng và khạng nạng đi
xuống cái khe lớn, khuất vào lùm cỏ um tùm chưa kịp cắt đã
úa vàng?.
- Giữ vững đội ngũ!...Không được bỏ các xe lắp súng
máy!...Chạy vào rừng? Chạy vào rừng, mẹ kiếp!...- thủ lĩnh
phỉ la ó, rướn mình đứng lên trên đôi bàn đạp.
Trong khi đó toán lính đánh xe và lính bắn súng máy đã láo
nháo, chạy ngược chạy xuôi bên những cỗ xe lắp súng máy và
chặt đứt cái dây chằng, còn hàng quân bị hỏa lực liên
thanh dồn dập phá vỡ thì bắt đầu quay cuồng trong một
cuộc tháo chạy không sao kìm nổị
Thủ lĩnh phỉ quay ngựa lại thì bắt gặp một người phanh
rộng chiếc áo khoác Kadắc lao ngựa thẳng vào y, tay vung
kiếm. Qua chiếc ống nhòm đeo lủng lẳng trước ngực và qua
chiếc áo lính, thủ lĩnh đoán người phi ngựa kia không phải
là lính Hồng Quân thường và y ghìm dây cương lạị Từ xa, y
đã nom thấy một khuôn mặt trẻ, không để râu, nhăn nhó
một cách căm tức và cặp mắt nheo lại vì gió. Con ngựa thủ
lĩnh phỉ đang cưỡi bỗng nhảy chồm lên, khuỵu hai chân sau
xuống, còn y vừa rút khẩu súng lục mắc ở thắt lưng ra,
vưa thét lớn:
- Quân chó chết!...Hãy bắn đi, bắn đi! Tao sẽ bắn tan sọ
mày!...
Thủ lĩnh phỉ nhắm bắn vào chiếc áo choàng đen ngày một
hiện rõ. Con ngựa chồm lên chừng tám xagiên thì ngã khuỵu,
còn Nhicônca quăng chiếc áo khoác đi, vừa bắn, vừa lao đến
gần tên trùm phỉ hơn?
Sau cánh rừng có ai đó kêu rống lên như thú dữ, rồi lặng
bặt.Mặt trời bị đám mây đen che phủ và những bóng mây
trôi trùm lên thảo nguyên, con đường và cánh rừng bị gió và
tiết thu làm trơ trụi hết lá cành.
" Đồ trẻ ranh ngu ngốc, hăng máu, bởi thế cái chết đến
với nó càng nhanh"- thủ lĩnh phỉ suy nghĩ ngắt đoạn và đợi
đến khi người kia hết đạn, y mới thả dây cương, lao bổ
tới đó như con diều hâụ
Ngồi trên yên, y buông thõng người, tay vung kiếm, và trong
khoảnh khắc y cảm thấy đường kiếm làm cái xác kia mềm
nhũn, ngoan ngoãn trườn xuống đất. Thủ lĩnh phỉ xuống
ngựa, giật chiếc ống nhòm của người chết, nhìn đôi chân
còn khẽ run rẩy, ngó quanh, đoạn quì xuống tháo đôi ủng khỏi
cái xác đó. Tỳ chân lên một đầu gối kêu răng rắc, y nhanh
nhẹn và khéo léo gỡ một chiếc bốt. Chiếc bốt khác, có lẽ
vì bị tất xoắn lại, không tháo được. Y vừa chửi đổng
vừa tức tối, vừa giật chiếc bốt cùng với tất ra, và ở
phía trên mắt cá chân, y chợt nhìn thấy cái bớt bằng quả
trứng chim câụ Như sợ đánh thức người đã chết, y chậm
rãi lật ngửa khuôn mặt đã lạnh giá, hai tay y dấy đầy máu
từ trong miệng tuôn ra ồng ộc; y ngắm kỹ xác chết, rôi
mới vụng về ôm lấy đôi vai vuông thước thợ và nghẹn ngào
thốt lên:
- Con ơi!... Nhicônca!... con yêu quý!... Hòn máu của cha!...
Mặt y tím bầm, y kêu lên:
- Con hãy nói đi, dù một lờ thôi! Sao lại thế này, hả
Y phủ phục, nhìn vào đôi mắt đờ đẫn. Y khẽ nâng cặp mi ma
('t ấy đầy máu, lay lay cái xác không hồn mềm nhũn? Nhưng
Nhicônca đã cắn chặt đầu lưỡi tím ngắt, dường như sợ
phải hé ra điều gì quá đỗi lớn lao và hệ trọng.
Thủ lĩnh phỉ áp đôi tay cứng đờcủa con trai lên ngực mà
hôn và lấy răng cắn chặt lớp vỏ thép đổ mồ hôi của
khẩu súng ngắn, y bắn vào miệng mình?

(Trần Vĩnh Phúc dịch)






 «  view previous novel view next novel »

 People Also View
Tống Duy Tân ?1892
Cô Ba nào?
Như Mưa, Nắng?
Con của ai?
Trước Vòng Chung Kết
Chơi Với Thời Gian
Chuyến Tàu 16 giờ 50
Chuyến Tàu 16 Giờ 50
Tìm Sống
Hạ Trắng, mây Đông mưa Tây
Trích Tiên
Cua
Người Về Ngàn Phố
Trường Cũ
Trường Cũ
Trên Sông Truyền Hịch
Mùa Mưa In The Wet
Chuyện một đứa trẻ
Kẻ vắng mặt
Cõi Chết
Cõi Chết
Ðồi Fanta
Tao Loạn
Thư Gởi Ông Trời
Bức Tường
Trước Vòng Chung Kết
Trước Vòng Chung Kết
Trước Vòng Chung Kết
Bong Bóng Lên Trời
Bong Bóng Lên Trời
Những phụ nữ nhỏ bé
Những phụ nữ nhỏ bé
Chim phóng sinh
Tây Du Diễn Nghĩa
Tây Du Diễn Nghĩa
Tây Du Diễn Nghĩa
Tây Du Diễn Nghĩa
Tây Du Diễn Nghĩa
Tây Du Diễn Nghĩa
Tây Du Diễn Nghĩa
Tây Du Diễn Nghĩa
Tây Du Diễn Nghĩa
Tây Du Diễn Nghĩa
Tây Du Diễn Nghĩa
Tây Du Diễn Nghĩa
Tây Du Diễn Nghĩa
Bướm Trắng
Đứa Con Đầu Lòng
tối ba mươi
Diễm Dương Trang
Diễm Dương Trang
Tiếng còi nhà máy
Huyền thoại biển
Huyền thoại biển
Nỗi lòng
Nỗi lòng
Nỗi lòng
Nỗi lòng
Nỗi lòng
Nỗi lòng
Nỗi lòng
Nỗi lòng
Một cánh hoa chìm
Mùa đông quạnh vắng
Hoàng kim ốc
Người con gái thần Rắn
Trời phật công bình
Tù và tù
Con quay
Chơi Với Thời Gian