|
Đôi dòng tiểu sử Ngô nguyên Dũng Tên thật Ngô Việt Dũng. Sinh năm 1951 tại Sài Gòn. Du học và định cư tại Ðức từ 1970. Trong ban biên tập tạp chí Làng Văn Canada. Tác phẩm đã xuất bản: Dòng Chữ Tâm Tình (truyện 1988) Mười Hai Hoa Cúc (truyện 1988) Ðêm (truyện 1969) Tiếng Núi (truyện 1992) Chuông Ðêm (truyện 1992) Gia Ðình Cún (truyện 1994) Âm Bản (truyện 1995)
*** Tôi chăm chú dõi theo dáng mẹ lom khom bên mấy chậu hoa trong khu vườn mùa đông. Nắng chiều hắt vàng lên những khóm cây nhiệt đới còi cọc trong chậu đất con. Chòm lê kiểng rải bóng lốm đốm lên lưng áo mẹ. Mẹ mặc áo trắng, quần đen, tóc bới cao, giắt kẹp đồi mồi. Tôi có thể hình dung ra chiếc kẹp này với đầy đủ chi tiết. Những đường vân nâu lượn ngoằn ngoèo trên lớp vỏ màu hổ phách trong như mật. Cái móc thiếc tí hon, chỉ cần bấm nhẹ là bung ra. Đã nhiều lần tôi vụng về tìm cách tháo kẹp, khi mẹ cúi đầu hỏi han hay vỗ về tôi. " Con trai cưng của mẹ ơi!"Giọng mẹ mềm mại như tẩm mật ngọt, được ướp hương trầm. Mẹ gỡ mấy sợi tóc vương quanh móc kẹp, trao cho tôi. Nét mặt mẹ rạng rỡ. Nét mặt tôi cũng rạng rỡ, dẫu chỉ là thứ ánh sáng yếu ớt không soi thấu đáy sâu đại dương. Tay tôi mân mê thân kẹp đồi mồi bóng loáng, trơn lẩy, mát rượi, có cảm tưởng chính tôi là con vật cô đơn lầm lũi trong lòng biển đục tối. Tôi có cặp mắt lờ đờ của đồi mồi. Tôi có chiếc miệng hay nhểu nhão chất nhờn của đồi mồi. Tôi có hai cánh tay và đôi chân khẳng khiu, co quắp chậm chạp của đồi mồi trên đất cạn. Tôi còn có thứ ngôn ngữ không thể diễn đạt bằng tiếng nói. Tôi là một đứa trẻ mang chứng si ngốc bẩm sinh. Mẹ tưới cây xong, còn dềnh dàng đứng đấy trong nắng chiều, rồi xoay người bước tới cạnh tôi. Gương mặt mẹ ngược nắng, sẫm lại. Vạt áo mềm như đôi cánh lấm tấm bụi phấn của con bươm mốc vừa rời kén. Mẹ cúi mặt, áp má lên tóc tôi, thầm thì: " Không ai chơi với con trai của mẹ, phải không?" Tôi hình dung ra nét mặt mình rực vui. Tôi sẽ liến thoắng choàng tay bấu cổ mẹ, sẽ rót vào tai mẹ lời ngọt ngào tầm thường nhất. Nhưng hai mắt tôi vẫn trâng tráo bất động, mép miệng tôi vẫn tiếp tục rỉ nhớt, tay tôi vẫn lỏng khỏng cành khô. Tôi không thể điều khiển hành động mình bằng ý nghĩ. Tôi chỉ giương to mắt như con thú trước cảnh bất trắc, nửa van xin nửa sợ sệt chờ đợi. Mẹ hiểu ánh mắt tôi, gật gù: " Ừ, ừ, lát nữa chị Quỳnh sẽ tới chơi với con, chịu không?" Tôi nhếch môi cho mẹ hiểu đó là nụ cười. Mẹ sửa lại sống áo tôi, cẩn thận luồn áo lót vào lưng quần, chặm nước bọt hai bên mép môi tôi. Rồi mẹ nhấc ghế ngồi cạnh, tiếp tục đan áo. Có điều gì không ăn nhịp giữa màu chiều tàn tạ và màu len đỏ rực trong rổ đan. Cử động thoăn thoắt đưa đẩy kim đan của hai tay mẹ cũng không ăn khớp với đám tĩnh vật chung quanh. Như thể chúng đang chờ đợi điều gì. Một thảm cảnh hay một niềm vui bất ngờ? Như thể chúng đang trừng mắt mưu toan chuyện mờ ám. Như thể chúng đang ẩn núp rình rập, chờ xem một biến cố ngọan mục. Làm sao tôi giải thích cho mẹ, cho cha, cho chị Quỳnh và cho cả anh Trung hiểu rằng, mỗi tĩnh vật trong ngôi nhà này đều tiềm ẩn một câu chuyện. Tất cả gom lại thành một bảo tàng viện của nhân loại thu hẹp. Chiếc ghế sơn trắng kê nơi ngưỡng cửa đã có thời là thông xanh sừng sững trong rừng sâu. Chướng nghiệp nào khiến chúng bị đốn làm gỗ mang về đây, hiện diện nơi này, là nhân chứng theo từng kỳ tăng trưởng bệnh trạng của tôi? Mẹ đã nhiều lần ôm tôi ngồi trên chiếc ghế ấy. Hoặc ru giấc chiều, hoặc mớm cho tôi từng muỗng cháo lỏng. Hay chỉ ngồi thừ như thế. Tôi vùi thân vào đại dương ấm áp vòng tay mẹ. Tôi há miệng bú mớm chất ngọt của tinh bột. Tôi thấy rõ đồng lúa gợn sóng vây vẩy trong nắng gió. Tôi thấy cả thằng bù nhìn ngả rạp sau cơn giông đêm qua. Lũ chim lúa reo mừng hối hả. Tiếng cánh đập lào rào như thóc rẩy. Lẽ nào tôi lại là con chim lúa tinh ranh, từ đất trời nhiệt đới lạc tới chốn này, quéo quắt ngắm từng vật thể bày biện quanh đây? Vật tôi yêu nhất có lẽ là vạt nắng hắt lên tường nhà, phía sau bình hoa pha lê. Màu nắng thay đổi từng mùa... không, mỗi ngày. Đẹp nhất khoảng tháng Mười, nắng đậm mật. Tôi thấy ra trong đó có vị mặn của cái chết. Mùa đang cựa mình, r¡c lên mặt đất chút sinh lực sau cùng. Hung hãn như tên đồ tể vô tâm. Lạnh lùng như con thú một sống một còn với kẻ thù. Đã nhiều lần tôi hoá thân thành đứa trẻ có tâm sinh lý bình thường, dò dẫm từng bước tới ngồi vào giữa vạt nắng tháng Mười. Lá trong tôi rực vàng như giát kim nhũ. Tâm hồn tôi nóng bức lạ lùng. Hốt nhiên tôi mù mờ nhận ra lẽ huyền bí giữa sống chết. Hoàn toàn không biên giới. Thoắt cái là bên này, hay bên kia. Để rồi tôi lại rã rượi vòng tay ôm lấy bóng nắng, như đợi ơn cứu rỗi. Vì tôi vừa bâng khuâng nhận ra tôi, vâng, chính tôi là lằn ranh mỏng manh giữa sự sống và cái chết. Không một ai hiểu những suy tư rắc rối này của tôi, kể cả chị Quỳnh. Chị đến để tập cho tôi một vài động tác thể lực, mỗi tuần ba lần. Chị Quỳnh đẹp như tranh vẽ. Bàn tay chị mềm như lụa. Người chị toát hương một loài hoa quý. Tôi nằm yên, gần như trần truồng, cho chị xoa dầu lên người. Tay chị lần tới đâu, hơi ấm lan tới đó. Chị nắn vuốt những khớp xương khẳng khiu, đầu ngón xoay vòng nhè nhẹ, thận trọng như sợ tôi vỡ. Chị ấn lên xương sống tôi, từ cổ xuống tận đốt dưới cùng. Tôi muốn mình hoá thành con rắn để được chị nắn mãi như thế. Chị Quỳnh dường như không nhận biết cảm xúc này của tôi. Và tôi có cảm tưởng càng về sau, chị tới đây không phải để chăm sóc tôi mà vì lý do nào khác. Những hôm chị tới đều có mặt anh Trung. Khi tôi tới tuổi biết nhận thức thì anh Trung đã thường xuyên vắng nhà. Giờ giấc về thăm của anh thất thường. Có khi vào sáng sớm, có khi là nửa đêm. Nhiều lúc anh ở chơi, bầu bạn cùng tôi hai ba tuần liền. Lại có lúc không thấy tăm hơi anh vài tháng liên tiếp. Nhà thiếu hơi hướm đàn ông trẻ, trở nên ẻo lả, xanh xao, bi quan như bản đàn ngũ cung. Có anh, ngôi nhà như đàn bà tiếp nhận tinh lực đàn ông, bừng lên nồng nàn. Tôi cũng linh hoạt rộn ràng. Anh thay mẹ làm những việc nặng. Như đẩy xe cho tôi đi dạo. Như bế tôi vào phòng vệ sinh. Cơ thể tôi vẫn phát triển, dẫu chậm và không bình thường. Tay chân tôi càng lúc càng loằng khoằng. Nửa người bên trái nghiêng lệch như phần lá cây thiếu ánh sáng. Còn khuôn mặt tôi, trời ơi, lâu lắm rồi tôi không đủ can đảm nhìn mình trong gương. Tôi nhận diện mình qua tình thương của cha mẹ, bằng bàn tay mềm mại của chị Quỳnh và qua sắc diện hâm hấp sự sống của anh Trung. Anh đẹp đẽ toàn bích qua cái nhìn của tôi. Anh còn có phong cánh tao nhã của một nghệ sĩ. Dù mang khuyết tật thính giác, nhưng tôi vẫn có thể mường tượng ra dòng nước âm thanh, khi anh ngồi khẩy đàn bên tôi. Những nốt nhạc lóng lánh rắc mưa lên đất cằn. Lá cỏ cong oằn hứng lấy ơn lành. Tôi đẫm hồn mình vào không gian tuyệt diệu của âm nhạc, nấc ngây ngất theo từng ngón tay anh nắn nót trên khung dây. Nét mặt anh an lành tuyệt đối. Ánh mắt anh cũng gợi cảm tuyệt đối, chờn vờn quyện trên khuôn mặt tôi rồi quay sang chỗ chị Quỳnh đang ngồi. Tôi rợn người. Tôi không thể diễn tả được thần sắc anh lúc đó. Nó vượt qua giới hạn của trí tưởng tôi. Nó bứt rời thực tại, lao vào cõi mênh mông nào khác. Nhạc trở thành con thác bạo loạn cảm xúc. Nhạc rưới cường toan lên thân thể tôi. Lửa bừng lên rát bỏng. Thần kinh tôi đứt đoạn tan hoang. Tôi co giật theo cơn động kinh. Tôi dựng ngược mắt, nẩy người hứng mũi tên vừa buông. Chị Quỳnh rú lên thất thanh. Anh Trung chạy tới, đẩy vội bàn tay vào miệng tôi. Tôi cắn tay anh toé máu. Tôi thù ghét thậm tệ những bàn tay đẹp. *** *** Trong bàn cơm, mẹ đặt tôi ngồi bên trái. Tôi không tiêu hoá được thức ăn, nên mọi thứ đều phải nấu nhừ rồi tán nhuyễn. Mẹ thường vỗ về tôi: " Tội nghiệp, con trai cưng, cứ phải ăn những thứ này." Tôi muốn nói, đáng lẽ con tội nghiệp cho mẹ mới phải, vì tôi là một gánh nặng không bao giờ vơi trong gia đình này. Cha tôi chặc lưỡi: " Thằng Trung với nó như hai thái cực." Mẹ chau mày: " Không thể so sánh như vậy được, đứa nào cũng là con." " Tôi có phàn nàn gì đâu." Mẹ tươi t¡n: " Từ lúc có cô Quỳnh lui tới, thằng Trung về thăm nhà thường hơn." Cha tôi cười hóm hỉnh: " Cô Quỳnh coi được mắt đó chứ, lại tận tụy." " Chỉ sợ thằng Trung nhiều nghệ sĩ tính, thích vui hơn là tính chuyện lâu dài." " Bà nghĩ chúng nó có gì với nhau thật à?" Mẹ hừm khẽ: " Còn phải hỏi." Tôi lừa thức ăn ra khoé môi, cổ họng tôi nghẹn chặt. Mẹ xoắn xuýt lau miệng, kề ly nước vào miệng tôi. Tôi phun cả thức ăn lẫn nhớt dãi vào ly nước. Mẹ dịu dàng chặm sạch miệng tôi, đổ nước vào chậu nhựa bên dưới, rồi rót cho tôi ly nước khác. Tôi cố gắng ngoan ngoãn ăn uống chiều theo ý mẹ, bằng cách suy nghĩ những chuyện viển vông, không để ý lời cha mẹ bàn chuyện anh Trung và chị Quỳnh. Tôi là một hộc bàn có vô số ngăn kéo tưởng tượng. Tôi có thể tự động mở ra đóng vào, tự ý. Tôi cũng có thể sai khiến chúng làm theo ý mình, như một nhà ảo thuật đại tài hay như một văn sĩ cừ khôi. Lần này tôi mở ngăn kéo đựng những vì sao lạc xuống địa cầu, thành tuyết sa. Tôi thích làm bạn với những cánh sao lạnh lẽo này. Trông chúng giống nhau thật đấy, nhưng mỗi hoa tuyết là một vì sao có bản mệnh khác nhau. Có vì sao hạnh phúc, có vì sao cô đơn. Có vì sao tầm thường, có vì sao dị thường. Cũng có vì sao mang số phận tật nguyền giống tôi. Chúng chớp tắt đâu đấy lẻ loi trong góc trời, rồi cuồng chân rơi xuống thành hạt tuyết lạc loài, xấu xí, đoản mệnh như một lằn chớp. Tôi cũng có một ngăn đầy sấm sét. Chỉ đựng ánh sáng thôi, không tiếng động. Mở ra, tia sáng loé liên hồi như pháo bông đêm hội lớn. Những đêm giông trái mùa, tôi thường hé ngăn kéo cho sấm chớp tuôn ra. Một đêm mưa, ngồi nghịch như thế, tôi cảm được tiếng người trò chuyện trong nhà kiếng. Tôi hoá thân thành đứa trẻ sục sạo trà trộn vào bóng tối chập chợn, tơi nép mình bên chậu cây. Mưa vỡ lào rào lên mái kiếng. Lâu lâu, một lằn chớp loé lên nứt trời, tiếp theo là âm thanh kinh động không gian, làm hốt hoảng cả gương mặt chị Quỳnh dúi sát vào ngực anh Trung. Một tay, chị bấu lấy vai anh. Cổ áo chị hớ hênh. Hàng nút xa cừ lóng lánh. Bàn tay anh Trung đặt lên chỗ da trắng của vạt áo, xoa nhẹ. Tiếng anh Trung mơn trớn: " Quỳnh nở vì anh đêm nay, nhé!" Chị Quỳnh ỡm ờ: " Em không muốn." " Tại sao?" " Vì hoa quỳnh chóng tàn." " Ngày tàn, nhưng mỗi đêm lại nở cho anh." Chị Quỳnh mắng yêu: " Tham lam." Rồi chị ngẩng cổ cho anh rúc đầu vào. Anh vục mặt xuống ngực chị mở hờ. Mưa xối xả, in bóng đậm nhạt lên da tr¡ng. Ngực chị Quỳnh mum múp như búp hoa chờ mãn khai. Tôi bỗng thấy những động tác của anh Trung thô bạo, xấu xí như của một kẻ tật nguyền. Ngực tôi nóng ran như chứa những lửa than âm ỉ. Khi anh Trung úp người lên thân chị Quỳnh, đất lành trong tôi bừng bừng chuyển động. Nham thạch phún đỏ từ những miệng núi. Đất rách ngoằn ngoèo những rãnh sâu. Gió phẫn nộ bứt ngang địa cầu. Biển dâng sóng lớn, đập hung bạo vào lưng núi đá. Loài người và thiên nhiên đối nghịch nhau. Tôi nhắm mắt để khỏi thấy cảnh gớm ghiếc. Tôi là thiên nhiên đang ầm ì rung chuyển. Tôi cháy, tôi vỡ, tôi thét, tôi phá phách, ngập ngụa, tôi giết người rồi tự sát... Mưa vẫn xoi bóng xuống khu vườn mùa đông. Tôi hé mắt nhìn, không thấy chị Quỳnh và anh Trung đâu nữa. Cảnh vật im lìm như không có những thiên tai. Đêm vẫn lầm lì gõ nhịp dài ngắn. Tôi bỗng nghi ngờ giác quan thứ sáu của mình. Tôi đã khiếm khuyết ngũ quan, chỉ còn nó, mà dường như nó cũng phản bội tôi, cho tôi thấy ra những hoang tưởng xảo trá. Tôi đau đớn co người, hai tay bó gối. Tôi và đối ảnh vụn vỡ tan nát nghìn mảnh. *** ***
Mẹ nâng thân thể mềm nhũn của tôi lên, rơm rớm: " Trời ơi, sao người con lạnh lẽo thế này." Ánh mắt tôi nhìn mẹ khẩn khoản. Tôi thều thào, van lơn, không sao đâu, con không sao đâu, mẹ đừng lo. Nhưng tiếng nói tôi chỉ là những gợn sóng nhăn nheo tan vào biển lặng mênh mông. Mẹ xoa dầu nóng, nắn bóp khắp người tôi. Mẹ rên rỉ hỏi han tôi. Tôi nhuốm bệnh lặng lẽ. Chính cơn sốt tâm lý này đã thiêu huỷ những nhiễm thể cần thiết của ngũ quan tôi. Nó âm ỉ gặm nhấm những tế bào tăng trưởng. Nó bắt tôi nhỏ dại khi tâm sinh lý tôi đã trưởng thành. Nó xui tôi hình dung những cảnh tượng xa rời thực tế. Nó đẩy tôi tới gần mẹ và chị Quỳnh, cho tôi cảm nhận hơi ấm bàn tay người khác phái. Càng lúc tôi càng xa cách anh Trung. Tôi có cảm tưởng, tình ruột thịt giữa anh và tôi không còn như trươc. Cảm xúc tôi, mỗi khi được anh săn sóc, bỗng đắng ngắt như những viên thuốc trị chứng suy nhược. Riêng bàn tay mẹ, vẫn vậy. Cả cái ly nước của riêng tôi. Những khi mẹ nâng đầu, kề miệng ly vào rãnh môi tôi, tôi lại thấy ra vũ trụ đẫm mình trong đáy nước. Mặt trời và mặt trăng của thái dương hệ này. Vô số con đường sữa vắt vẻo trong không gian thẫm tối. Những chòm sao chổi lang thang theo chu kỳ thiên văn. Con mắt tôi trừng trừng lăn mãi như hòn bi mất trọng lực. Tôi hé môi nhấp cả vũ trụ thênh thang vào miệng. Thành ly thuỷ tinh cứng lạnh và vô cảm. Không, quá khứ của ly cũng đáng hãnh diện lắm chứ, là cát đại dương xa, đã từng hứng nắng, dầm mưa, ấm lạnh theo thời tiết. Rồi cát được loài người biến đổi thành chiếc ly thuỷ tinh. Không biết thỉnh thoảng ly có hoài niệm tiền thân? Tôi muốn san sẻ cùng ly những xúc động hợp tan đó. Đừng bao giờ quan tâm tới lẽ biến thiên. Không có gì tồn tại mãi. Cả viên thuốc đắng, cả hớp nước lạnh, cả vành ly ngậm nắng, cả tôi và những suy tưởng không thể tiết lộ cùng ai. Mẹ cầm tay tôi, áp lên má. Nước mắt đọng khoé mi. Tôi nếm được vị mặn ấm trong tay mẹ. Tôi ráo riết khuyên mẹ: " Có gì đâu, lẽ sống chết." Lòng tôi dâng lên niềm xót xa không thể giải thích. Tôi đã chết đi, sống lại nhiều lần trong tâm tưởng mình. Tôi đã từng gần gụi với chị Quỳnh, ra tay hạ sát anh Trung trong nhiều giấc mơ hoang. Lưỡi dao tâm ác lún ngập cán vào giấc ngủ tôi. Máu phún đầy những khe nứt thần kinh tôi. Dòng nham thạch cuốn lấy thân tôi. Tôi bất ngờ hoá thành di tích của thời bán khai. Cả thân xác tôi cũng mất đi lực cảm nhận. Tôi là bộ xương hằn dấu trên đá, làm đảo lộn những giả thuyết về nguồn gốc giống người. Cả đêm tôi được nằm cạnh mẹ. Thân tôi lạnh ngắt. Mẹ quấn chăn quanh người tôi. Cha lăng xăng gọi điện chỗ này chỗ nọ. Anh Trung ngồi ủ dột trong chiếc ghế sơn trắng, bên ngưỡng cửa dẫn ra khu vườn mùa đông. Không có mặt chị Quỳnh. Ánh sáng trong nhà bỗng đổi sắc. Dường như chói hơn và nhuốm chút xanh huyễn hoặc của thạch động. Tôi thấy mình reo lên, bay lơ lửng trong luồng sáng mầu nhiệm đó. Không một tiếng động. Ý niệm không gian và thời gian đứt lìa tan hoang. Chẳng còn ranh giới giữa sống chết, vọng chân và không có. Tôi vượt qua chúng dễ dàng như đứa trẻ thả diều trên đê đất một chiều nắng gió huy hoàng. Tôi về lại nguyên thuỷ chính mình, là cái không thể định nghĩa. Tôi tách rời những định lý vật chất. Tôi hoàn toàn tự do, băng qua vực sáng tối của đời sống. Tâm tôi thảnh thơi giũ bụi phiền muộn. Nhưng tôi không thể giải thoát giùm những đồ vật đã kề cận cùng tôi trong phần đời ngắn ngủi. Mỗi thứ là một số mệnh. Mỗi thứ là một chuỗi quá khứ, hiện tại và tương lai. Mỗi thứ là một hoài nghi lớn. Tội nghiệp, chúng là những câu chuyện không có đoạn kết. Chúng bất tử trong cách đối đãi dửng dưng của loài người. Ngô Nguyên Dũng (02.1.1998)
|