|
Hàng trăm công nghìn việc phải tiến hành và gần như phải làm cùng một lúc, khi mà sáu người chúng tôi cùng bè gỗ và hàng đem theo phải được tập trung tại một địa điểm trên bờ biển Pê-ru. ấy vậy mà trước mắt chúng tôi chỉ còn vẻn vẹn có ba tháng mà trong tay lại không có cây đèn thần của A-la-đanh. Chúng tôi đáp máy bay đi Niu-oóc mang theo thư giới thiệu của văn phòng liên lạc, để gặp giáo sư Be-rơ ở Trường đại học Cô-lô-bi-a. Giáo sư là giám đốc ủy ban nghiên cứu về địa lý của Bộ chiến tranh và chính giáo sư qua dây nói đã hạ lệnh đem đến cho Héc-man những dụng cụ quý và máy móc cần thiết cho đo lường khoa học. Chúng tôi lại đi tiếp bằng máy bay đến Oa-sinh-tơn để gặp đô đốc Cla-vơ ở Viện nghiên cứu hàng hải của hải quân Mỹ. ông già giàu kinh nghiệm về biển và tốt bụng này đã triệu tập các sĩ quan trước tấm bản đồ Thái Bình Dương và giới thiệu chúng tôi:
-Các bạn trẻ này có ý định điều chỉnh lại trên các bản đồ về các hải lưu. Cần phải giúp đỡ họ. Sau đó mọi việc đều tiến hành trôi chảy. Đại tá Lân-xtên, người Anh, đã họp các tùy viên quân sự của nước Anh ở Oa-sinh-tơn để thảo luận về những khó khăn có thể xảy ra cũng như những khả năng may mắn đi tới thành công của chúng tôi. Chúng tôi đã nhận được nhiều ý kiến giúp đỡ và một số thiết bị đã được chọn lọc gửi từ nước Anh tới để sử dụng thể nghiệm cho cuộc hành trình bằng bè này. ông cụ phụ trách cơ quan y tế ở Anh đã giới thiệu nồng nhiệt với chúng tôi một loại "bột chống cá mập". Theo ông, đối với một con cá mập hung hãn chỉ cần vứt một nhúm bột xuống nước là cá mập phải lẩn đi ngay. Tôi lễ phép hỏi:
-Thưa ông, liệu có thể hoàn toàn tin vào tác dụng của bột này không? ông mỉm cười trả lời:
-Thực ra đó cũng là điều mà chúng tôi đang cần tìm hiểu. Khi có việc vội, cần đi lại nhanh chóng đã có máy bay thay cho tàu hỏa, ô-tô thay cho đôi chân và túi tiền cũng lép dần theo.
Sau khi phải để lại chiếc vé trở về Na Uy của tôi, để lấy tiền chi dùng, chúng tôi phải đến gõ cửa bạn bè và những người cho vay vốn để kinh doanh ở Niu-oóc, há vọng có thể giải quáết được vấn đề tài chính. Nhưng chúng tôi đã vấp phải một số vấn đề, vừa không dự kiến trước, vừa dễ làm cho nản chí. ông trông nom về tài chính lại đang bị ốm liệt giường, còn hai người cộng sự của ông ta không đủ thẩm quyền giải quáết, dù rằng họ vẫn tôn trọng giao ước kinh tế đã thỏa thuận, nhưng phải đợi ông phụ trách bình phục chứ không thể làm khác được. Họ đề nghị với chúng tôi tạm hoãn lại, nhưng không thể được vì biết bao nhiêu công việc đang được tiến hành khẩn trương không thể ngừng lại được.
Chỉ còn cách kiên trì giữ nguyên như vậy vì đã quá muộn để đình cả lại. Những người cho vay vốn của chúng tôi đành đi đến thỏa thuận hủy bỏ giao ước để chúng tôi có thể tự lo lấy ở nơi khác nhanh chóng hơn. Lúc này hai chúng tôi lang thang trên đường phố, Héc-man lẩm bẩm:
-Tháng chạp, tháng giêng, tháng hai. Tôi tiếp lời:
-Và cùng lắm là tháng ba, chúng ta phải lên đường thôi. Nếu như các việc còn lại có vẻ còn mờ mịt thì sự việc trước mắt chúng tôi là cuộc hành trình này có mục đích rõ ràng, chứ chúng tôi không làm những chuyện giật gân, hiếu kỳ giống như các diễn viên nhào lộn trong chiếc thùng ton-nô lao theo thác nước Ni-a-ga-ra hay giống như những người đã đứng trên ngọn cột cờ suốt trong mười bảy ngày đêm. Héc-man nói:
-Trong cuộc hành trình này, chúng ta chả cần đến kẹo cao-su và nước giải khát Cô-ca-cô-la. Về điểm này, chúng tôi hoàn toàn nhất trí với nhau. Chúng tôi có thể xoay xở để có tiền cua-ron Na Uy nhưng không thể dùng nó để giải quáết được những khó khăn của chúng tôi ở phía bờ Đại Tây Dương này.
Rất ít có há vọng để được khoản trợ cấp nào đó vì luận thuyết chúng tôi đưa ra còn chưa được mọi người nhất trí, còn đang tranh cãi và cuộc hành trình của chúng tôi trên chiếc bè chính là nhằm để bảo vệ và chứng minh tính chất đúng đắn của luận thuyết trên. Chúng tôi nhận thấy rằng từ giới cáo chí cho đến các nhà cổ động tư nhân đều không muốn bỏ tiền đầu tư vào công việc này, vì ngay chính bản thân họ và công tá bảo hiểm đều cho đó là một cuộc hành trình tự sát. Nhưng nếu chúng tôi trở về an toàn chắc chắn mọi việc lại sẽ khác hẳn. Hoàn cảnh ngày càng tối tăm và trong nhiều ngày chúng tôi vẫn chưa tìm ra lối thoát. Vừa lúc đó, đại tá Mun-cơ Cát lại xuất hiện:
-Thế nào các bạn trẻ! Các anh đang gặp khó khăn phải không? Đây là một ngân phiếu để giúp các anh bắt tay vào việc. Các anh sẽ hoàn lại cho tôi khi nào các anh từ Pô-li-nê-di trở về. Tiếp theo, rất nhiều người khác giúp chúng tôi như đại tá Mun-tơ Cát cùng với những khoản vay riêng đã giúp chúng tôi không cần đến sự hỗ trợ của các đại lý và các công tá. Những bè gỗ cổ xưa của dân Pê-ru đều làm bằng gỗ ban-xa. Loại gỗ này ở trạng thái khô có tỷ trọng bé hơn li-e. Cây ban-xa mọc ở Pê-ru nhưng chỉ có ở sau dãy núi ng-cơ, vì vậy ở thời kỳ người Anh-ca họ đã phải đi ngược bờ biển đến tận -cu-a-đo bên bờ Thái Bình Dương, để hạ từng cây lớn mang về. Chúng tôi cũng có ý định phải làm như vậy. Những khó khăn về di chuyển hiện nay không giống như ở thời người Anh-ca. Chúng tôi có thể có ô-tô, máy bay và nhờ các phòng nhận tổ chức các cuộc du lịch, tham quan, nhưng đâu có phải là hoàn toàn dễ dàng. Còn một khó khăn nữa là vấn đề nhập cảnh.
Nếu may mắn qua được cửa khẩu thì cũng còn mệt vì phải xin dấu hàng chồng giấy tờ và về thủ tục nhập cảnh. Điều làm cho chúng tôi lo ngại đối với các ông này, các nhân viên mang áo khuy đồng, là chúng tôi không thể đi đến bờ biển Nam Mỹ cùng với các hòm xiểng đầy ắp những vật lạ và sợ rằng với số vốn liếng tiếng Tây Ban Nha quá ít ỏi, chúng tôi không thể nào nói cho họ hiểu để cho phép nhập cảnh vào Pê-ru rồi lại từ đó ra đi trên chiếc bè, mặc dù chúng tôi đã bỏ mũ ra để tỏ vẻ cung kính họ. Không được phép thì rất có thể họ sẽ tống cổ chúng tôi vào nhà giam. Thấy tình hình như vậy, Héc-man bảo:
-Không thể được, cần phải có giấy giới thiệu của nhà cầm quyền. Một người bạn chúng tôi là phóng viên tại Liên hiệp quốc đã dẫn chúng tôi đến trụ sở Liên hiệp quốc. Tại đây, chúng tôi hết sức ngỡ ngàng, bước vào một phòng họp lớn có nhiều nhân vật của tất cả các nước đang ngồi sát bên nhau, trên những dãy ghế, để nghe những lời hùng biện của một đại biểu Nga đang trình bày trước một tấm bản đồ thế giới rộng lớn treo trên tường, phía cuối phòng họp.
Tranh thủ lúc phòng yên tĩnh, anh bạn phóng viên đã mời được một đại biểu của Pê-ru và sau đó cả đại diện của -cu-a-đo, sang phòng bên để chúng tôi được gặp. Ngồi trên chiếc ghế da lớn, họ hết sức chăm chú nghe chúng tôi trình bày dự kiến chuyến vượt biển nhằm chứng minh luận điểm là những dân tộc văn minh của nước họ xưa kia, đã là những người đầu tiên đặt chân lên những hòn đảo ở Thái Bình Dương. Cả hai đều hứa sẽ cáo cáo lên chính phủ và đảm bảo giúp đỡ, khi chúng tôi đến đất nước họ. Tình cờ đi qua phòng, vị Tổng thư ký được biết chúng tôi là người đồng hương, đã đến bên chúng tôi và một người nào đó đã hỏi liệu ông có thích đi cùng chúng tôi trên chuyến bè này không? Ngay ở đất liền ông đã gặp khá nhiều bão tố rồi.
Ben-gia-manh Cô-ben, phó Tổng thư ký Liên hiệp quốc, đồng thời lại là nhà khảo cổ nghiệp dư có tên tuổi, đã gửi tôi một phong thư để giới thiệu cho bạn là tổng thống Pê-ru. Tại đây, chúng tôi gặp cả đại sứ Na Uy Vin-hem Vôn Mun-thơ-đơ Moóc-ghên-xtiếc; từ hôm đó ông đã là chỗ dựa quý giá cho chúng tôi trong cuộc hành trình. Thế rồi, chúng tôi mua hai vé và đáp máy bay đi Nam Mỹ. Khi máy bay bắt đầu cất cánh chúng tôi cảm thấy người mệt nhoài, là người trên ghế nhưng trong lòng cảm thấy nhẹ nhõm với ý nghĩ đã vượt qua được giai đoạn thứ nhất của chương trình và giờ đây chúng tôi chỉ còn việc tiến thẳng vào cuộc phiêu lưu.
Chương III
ở Nam Mỹ
Máy bay bắt đầu nghiêng cánh xuyên qua những đám mây màu sữa trải dài dưới chúng tôi như một lớp đệm tuyết chói chang dưới ánh mặt trời để hạ cánh xuống đường băng. Hơi nước đọng thành băng ở cửa máy bay bắt đầu tan như những tảng mây treo lơ lửng và đã thấy xuất hiện một tấm thảm dài xanh rờn của những cánh rừng trập trùng. Chúng tôi đang bay trên nước Cộng hòa Pê-ru và hạ cánh xuống sân bay nhiệt đới Ga-i-a-kin. Xuống máy bay, trên tay còn mang những áo khoác ngoài mà hôm qua còn mang trên mình, chúng tôi cảm thấy một không khí nóng bức ngột ngạt, giữa những người phương nam ồn ào mang trang phục nhiệt đới, trong khi chúng tôi người nào áo cũng đẫm mồ hôi dính chặt vào lưng. Các nhân viên hải quan và nhân viên trông nom việc nhập cảnh đến chào và ôm chúng tôi trong vòng tay và đưa chúng tôi ra xe ô tô về khách sạn tốt nhất ở thành phố và cũng là khách sạn có tiện nghi. Tới nơi chúng tôi chạy vội vào buồng tắm nằm dài ngâm mình trong bồn tắm dưới vòi nước lạnh.Tổng thư ký Liên hiệp quốc thời kỳ đó là người Na Uy.
Chúng tôi đã đến xứ sở của gỗ ban-xa và phải mua đủ số cần thiết để đóng một chiếc bè. Trong ngày đầu tiên, chúng tôi phải tìm hiểu về hệ thống tiền tệ tại nơi đây và học một vài tiếng Tây Ban Nha để hỏi đường về khách sạn. Sáng hôm sau, chúng tôi phải đi nhiều nơi hơn. Héc-man đã thỏa mãn được sự mong muốn của anh từ khi còn con nít là được sờ tận tay một cây dừa nước thực sự. Còn tôi thì như một bình chứa lưu động phải mang vác đủ thứ, nào là rau và hoa quả, rồi sau đó chúng tôi mới quáết định đi thương lượng việc mua gỗ. Khổ thay! Nói thì dễ, làm mới thấy khó. Gỗ ban-xa có thể mua được rất nhiều, nhưng không phải những thân cây nguyên vẹn là loại mà chúng tôi cần. Đã lâu lắm, ở bờ biển này không còn cây gỗ ấy nữa. Cuộc chiến tranh vừa qua đã hủy diệt hết. Người ta đã hạ hàng nghìn cây để chuyển đến các nhà máy sản xuất máy bay, loại gỗ này xốp và rất nhẹ. Người ta còn mách cho chúng tôi biết chỉ có một nơi duy nhất còn các loại cây to, ở mãi tận trong rừng sâu của nước này. Như vậy là chúng tôi phải tự đi hạ lấy các cây gỗ đó. Theo các nhà chức trách ở đây cho biết, chúng tôi không thể thực hiện được việc đó, vì mùa mưa đã bắt đầu. Đường ở trong rừng bị ngập và lầy bùn sâu. Muốn lấy gỗ trong rừng phải chờ sáu tháng nữa, hết mùa mưa, đường khô ráo, mới có thể làm được. Trong lúc khốn đốn này, chúng tôi tìm đến Đông Guýt-xta-vô Vôn Bớt-svan, còn được gọi là ông vua gỗ ban-xa ở -cu-a-đo. Héc-man đã trình bày bản phác họa chiếc bè cùng với qui cách gỗ mà chúng tôi cần. ông vua gỗ nhỏ bé gầy quắt này, đã điện cho các đại lý tìm ngay cho chúng tôi số gỗ cần thiết. Nhưng ở tất cả các nhà máy của ông chỉ có những tấm ván hoặc những khúc gỗ ngắn, không có một khúc nào có thể dùng được. Hai cây còn lại ở trong kho của Đông Guýt-xta-vô thì đã khô cứng, của giúp gì được cho chúng tôi. Thật là vô ích nếu cứ cố tìm kiếm nữa, Đông Guýt-xta-vô bèn nói với chúng tôi:
-Một trong những người anh em của tôi, có một đồn điền lớn trồng cây gỗ ban-xa. ông ta tên là Đông Phê-đê-ri-cô ở Ki-vê-đô, một thành phố nhỏ ở mãi tận trong rừng sâu. Nếu các ông đến đó được, thì sau mùa mưa, sẽ tìm cho ông có đủ số gỗ cần thiết. Còn bây giờ không còn cách nào hơn nữa vì ngập lụt. Đông Guýt-xta-vô đã khẳng định như thế, ngay cả đến các nhà chuyên môn về gỗ ban-xa cũng nói như vậy. Thế đấy! Đã đến tận Ga-i-a-kin mà cũng không thể đóng bè, dù đến sớm nhiều tháng đi chăng nữa, chúng tôi cũng không thể tự đi hạ các cây gỗ đó được, và như thế là quá muộn.
-Thời gian gấp quá rồi!
-Héc-man nói. Tôi tiếp lời:
-Cần phải có gỗ ban-xa. Chiếc bè đó phải giống hệt như chiếc bè cổ xưa, nếu chúng ta muốn được an toàn. Chúng tôi đã tìm thấy ở khách sạn một tấm bản đồ học sinh, trên đó rừng được in màu xanh, núi màu nâu, còn các 79 80 Prev Page 4 Nextnơi có dân cư được khoanh một vòng tròn đỏ. Bản đồ đó cho thấy vùng rừng xanh kéo dài liên tục từ Thái Bình Dương đến tận chân dãy núi ng-đơ.
Tôi nảy ra ý nghĩ: vì không thể nào vượt qua được vùng bờ biển để đến vùng gỗ ban-xa ở Ki-vê-đô, chúng tôi có thể từ nội địa vượt qua các núi trọc đầy băng tuyết, đi thẳng vào rừng sâu để đến đó. Đó là khả năng duy nhất mà chúng tôi ước đoán. Tại sân bay, một chiếc máy bay vận tải nhỏ, nhận chở chúng tôi đến Ki-tô, thủ đô của xứ sở kỳ lạ này, chơi vơi trên cao nguyên của dãy núi ng-đơ, cách mặt biển 3000m. Từ trên máy bay nhìn xuống, trước khi bị mây che khuất, chúng tôi thỉnh thoảng thấy những khoảng rừng xanh cùng với những dòng sông lấp lánh. Khi bay vượt qua lớp mây phía dưới, đồng bằng như đang giấu mình dưới làn hơi nước mênh mông như biển cả, và ở phía trước mặt chúng tôi là những triền núi khô cằn cùng với những ngọn núi đá trọc nhô lên trên những lớp mây trong khoảng trời xanh biếc. Dù rằng gần đường xích đạo, máy bay lượn qua sườn núi và như lần theo một sợi dây vô hình, bay dọc cho đến khi hết các dải tuyết dài lấp lánh. Máy bay lượn giữa khe núi và hạ cánh xuống một cao nguyên phì nhiêu phủ đầy màu xanh của cây cối mùa xuân ở gần thủ đô kỳ lạ nhất thế giới này. Phần đông trong số 150 nghìn dân ở Ki-tô, là người da đỏ miền núi thuần chất hoặc lai tạp, vì đã từ lâu, trước cả thời kỳ Cô-lông và người da trắng tìm ra châu Mỹ, thì nơi đây đã là thủ đô của tổ tiên người da đỏ. Thành phố này mang những nét riêng biệt với những tu viện cổ kính, chứa đựng những kho tàng nghệ thuật vô giá, những công trình kiến trúc nguy nga của thời kỳ người Tây Ban Nha cai trị. Tất cả những công trình đó vươn lên trên những mái nhà thấp lè tè xây bằng gạch hay bằng đất phơi khô của người Anh-điêng. Dọc theo những dãy tường, chằng chịt những phố nhỏ chật hẹp đầy những người dân Anh-điêng miền núi khoác những khăn choàng sặc sỡ màu đỏ, đầu đội mũ rộng vành do họ tự làm lấy. Người thì dắt theo lừa chở đầy hàng mang ra chợ, người thì nằm co quắp, ngủ gà ngủ gật, dọc theo các chân tường dưới ánh nắng mặt trời. Một vài xe ô-tô chở những nhà quý phái gốc Tây Ban Nha, mặc trang phục miền nhiệt đới, phải chạy chậm, bóp còi liên hồi, mới đi được trong những phố nhỏ đường một chiều, đầy những trẻ con, lừa, và những người da đỏ đi chân đất...
Trên cao nguyên này, với không khí trong lành và tinh khiết, cùng với những núi non bao bọc tạo cho đường phố ở đây một vẻ huyền ảo kỳ lạ. Gioóc, anh bạn cùng đi máy bay với chúng tôi mệnh danh là "phi công điên" là người ở Ki-tô, dòng dõi một gia đình Tây Ban Nha đã lâu đời sinh sống ở đây. Anh dẫn chúng tôi đến ở tại một khách sạn cũ rích, ọp ẹp. Khi thì cùng đi với chúng tôi, khi thì một mình, anh chạy khắp mọi nơi để tìm kiếm phương tiện chuyên chở chúng tôi vượt núi đi đến Ki-vê-đô ở giữa rừng sâu. Buổi chiều, chúng tôi lại gặp nhau tại một quán cà-phê Tây Ban Nha, Gioóc chỉ đem lại cho chúng tôi những tin chả có gì đáng vui cả. Đến phải bỏ ý định đến Ki-vê-đô mất. Chẳng tìm đâu ra người, xe cộ, giúp chúng tôi vượt núi hay ít ra dẫn đường cho chúng tôi qua rừng rậm trong lúc mùa mưa đã bắt đầu, nếu bị sa lầy trong rừng thì rất dễ bị phục kích. Cách đây không lâu, mới năm ngoái thôi, người ta đã tìm thấy ở miền Đông -cu-a-đo, mười kỹ sư của một Công tá dầu lửa Mỹ bị bắn chết bằng tên tẩm thuốc độc là loại vũ khí đi săn của người da đỏ sống ở vùng rừng núi. Họ rất đông sống trần truồng và lang thang khắp các rừng rậm nhiệt đới. "Một số trong bọn họ săn đầu người"
-Bằng một giọng ồ ồ, Gioóc phều phào vừa nói vừa nhìn Héc-man, đang bình thản vừa ăn thịt bò vừa nhắp rượu vang. Gioóc hạ thấp giọng và nói tiếp:
-Anh tưởng tôi cường điệu ư? Mặc dù bây giờ đã nghiêm cấm nhưng vẫn còn có người sinh sống bằng cách bán các đầu người đã khô teo lại. Không tài nào kiểm soát nổi chuyện buôn bán này được, và ngay hiện nay, những người da đỏ ở trong rừng vẫn thường chặt đầu kẻ thù của họ ở những bộ lạc du cư. Họ đập vỡ sọ, bỏ sọ đi và nhồi cát nóng vào da đầu làm cho đầu người khi teo lại cũng chỉ to bằng đầu con mèo, mà vẫn giữ được hình dáng và cả nét mặt nữa. Xưa kia, những chiếc đầu kẻ thù này là những chiến lợi phẩm quý giá, và giờ đây, loại hàng lậu này khá hiếm. Có những người da đỏ làm trung gian mang những thứ hàng này cho khách mua ở bờ biển, để những người này bán lại cho khách du lịch bằng một giá cắt cổ. Gioóc nhìn chúng tôi với vẻ đắc thắng. Anh ta không ngờ rằng ngay trong ngày hôm đó, Héc-man và tôi bị lôi kéo vào gian nhà của người gác cửa, ở đây người ta đã gạ bán cho chúng tôi hai đầu người, với giá mỗi đầu là một nghìn viên đường. Hiện nay, có những đầu giả làm bằng đầu khỉ, nhưng hai chiếc đầu này là đầu người da đỏ chính cống, hoàn toàn giống hệt như khi còn sống, từng nét nhỏ cũng không bị mất đi. Đó là đầu một người đàn ông và một người đàn bà to bằng quả cam. Người đàn bà đó rất đẹp. Lông mi và mớ tóc đen vẫn dài như lúc còn sống. Bàng hoàng vì chuyện này, tôi tỏ vẻ lo ngại là rất có thể còn có những kẻ săn đầu người ở phía tây dải núi này. Vẻ buồn rầu, Gioóc nói:
-Biết thế nào mà nói trước được. Anh sẽ nói sao nếu anh bạn của anh biến mất và sau đó trên thị trường lại thấy chiếc đầu teo nhỏ lại của anh ta? Sự việc như thế có lần đã xảy đến với một người bạn tôi. Nói xong, Gioóc nhìn tôi với một vẻ thách thức. Héc-man chậm rãi nhai món bít-tết, với sự ham thích kín đáo, đề nghị Gioóc:
-Anh hãy kể cho chúng tôi nghe câu chuyện ấy. Tôi đặt dao, dĩa xuống và Gióoc bắt đầu kể câu chuyện sau: hai vợ chồng Gioóc trước kia sống trong một trạm ở sâu trong rừng. Tại đây, Gioóc vừa đãi vàng vừa mua lại vàng kiếm được của những người đãi vàng khác. Cặp vợ chồng Gioóc lúc đó có một người bạn là dân địa phương. Anh ta vẫn thường đến đổi vàng lấy hàng hóa. Một hôm, anh bạn ấy bị giết chết trong rừng. Gioóc phát hiện ra hung thủ và định bắn chết hắn. Nhưng chính tên này bị tình nghi là kẻ bán các đầu người nên Gioóc hứa tha chết cho hắn, nếu hắn chịu mang nộp ngay chiếc đầu mà hắn vừa cắt. Nó nhận lời. Khi trông thấy chiếc đầu của bạn, Gioóc rất xúc động vì chiếc đầu chỉ to bằng nắm tay và trông rất giống đầu người bạn vừa bị giết. Anh bồi hồi mang chiếc đầu đó về, làm cho vợ nhận ra đầu đó, chết khiếp và ngất xỉu. Gioóc phải cất vào trong hòm. Khí hậu miền rừng núi ẩm thấp nên không bao lâu, đầu đó bị mốc meo nên Gioóc phải đem ra phơi ngoài nắng. Anh treo chiếc đầu lên dây phơi quần áo và vợ Gioóc, một lần nữa lại ngất đi khi trông thấy nó.
Rồi một hôm, một con chuột nhắt đã chui vào hòm gỗ gặm nham nhở chiếc đầu của bạn anh, buộc Gioóc phải đem chôn vào một lỗ nhỏ trên sân bay với lòng thương tiếc và tự nhủ dù sao đây cũng là một con người. Tôi vờ khen: "Bữa ăn hôm nay ngon tuyệt", với ý muốn chuyển sang đề tài khác. Sáng hôm sau, dưới bóng cây khuánh diệp tại một biệt thự riêng ở ngoài thành phố, chúng tôi cùng ngồi với vợ chồng ông Brin, tổng lãnh sự của chúng tôi. ông Brin không thật tin là cuộc hành trình dự định đến Ki-vê-đô có thể làm cho chúng tôi thay đổi ý kiến về mức độ quan trọng, nhưng ... ở trong vùng mà chúng tôi dự định đến còn có những toán cướp đang hoành hành. ông đưa ra cho những mẩu tin đăng trên cáo chí địa phương cho biết trong mùa khô, quân đội sẽ được điều đến đó để tiêu diệt các toán cướp đang hoành hành ở các vùng lân cận Ki-vê-đô. Đi đến nơi đó lúc này là điên rồ, không thể nào tìm được người dẫn đường hoặc phương tiện. Trong khi đang trò chuyện, một chiếc xe gíp của Đại sứ quán Mỹ chạy qua, làm chúng tôi nảy ra một ý nghĩ; cùng đi với ông Tổng lãnh sự, chúng tôi đến gặp ông tùy viên quân sự Mỹ, một con người lịch sự, dáng thể thao, mặc bộ ka-ki, chân đi ủng cưỡi ngựa, niềm nở tiếp chúng tôi. ông hỏi tại sao chúng tôi lại lạc lõng đến tận dãy núi ng-đơ này trong khi cáo chí lại loan tin rằng chúng tôi sắp ra khơi trên một chiếc bè. Chúng tôi giải thích cho ông ta rõ là gỗ để đóng bè hiện còn ở trong rừng sâu. Chúng tôi đã đi đến tận nóc lục địa mà vẫn chưa tìm ra được và đề nghị ông tùy viên quân sự cho mượn một chiếc máy bay cùng với hai cái dù hoặc một chiếc xe gíp với một người lái thông thuộc đường sá ở đây. Lúc đầu, ông im lặng sững sờ trước sự tin chắc như đinh đóng cột của chúng tôi. ông mỉm cười gật gù trả lời vẻ miễn cưỡng:
-Thôi được! Vì các ông không đưa đề nghị thứ ba để tôi lựa chọn, tôi đành đồng ý với đề nghị thứ hai vậy. Sáng hôm sau, đúng 5 giờ 15, một chiếc xe gíp đã đến đỗ ngay cửa khách sạn và một đại úy công binh -cu-a-đo đến gặp chúng tôi, để sẵn sàng cùng đi. ông ta nhận được lệnh đưa chúng tôi đến Ki-vê-đô dù đường khô hay lầy lội. Chiếc xe gíp chất đầy bình xăng, vì dọc đường không có trạm cung cấp xăng, ngay cả xe qua lại cũng không có. Người bạn mới này là đại úy A-guy-ét-tô A-lếch-xít An-xa-rết, dao súng đeo đầy người để đề phòng bọn cướp. Chúng tôi đến đất nước này cốt để mua gỗ đóng bè nên ăn mặc chỉnh tề lịch sự, nào com-lê, ca-vát nên toàn bộ trang bị đi rừng của chúng tôi vẻn vẹn có túi đồ hộp, một máy ảnh cũ vừa mua lại và mỗi người chỉ có một chiếc quần ka-ki tàng. ông Tổng lãnh sự còn ép chúng tôi mang theo một khẩu súng ngắn kiểu Pa-ra-ben-lôm cùng rất nhiều đạn dự trữ để tiêu diệt bọn cướp dọc đường. Chiếc xe gíp băng qua các phố nhỏ vắng tanh, dưới ánh trăng mờ nhạt chiếu lên những bức tường quét vôi trắng. Ra khỏi thành phố, xe lao về phía nam với tốc độ lớn, trên con đường cát miền núi khá tốt. Đoạn đường tốt thoải mái này dẫn chúng tôi đến La-ta-cun-ga, một làng ở miền núi với những ngôi nhà không có cửa sổ của những người Anh-điêng dựng lên bừa bãi xung quanh một nhà thờ miền quê quét vôi trắng và một sân có rặng dừa râm mát. Xe rẽ sang một con đường mòn, ngoằn ngoèo nhỏ hẹp, lượn về phía tây qua các đèo núi. Chúng tôi bước vào một thế giới mà cảnh tượng ngay trong mơ cũng không hình dung nổi. Đó là thế giới của người Anh-điêng miền núi, nằm về phía đông của mặt trời và phía tây của mặt trăng, nếu không kể không gian và thời gian. Trên suốt chặng đường, chúng tôi không gặp một chiếc xe nào mà chỉ thấy những mục đồng đi chân đất, khoác áo păng-xô màu sặc sỡ, chăn những bầy đà mã có bước đi thủng thẳng. Đôi khi có toàn bộ cả những gia đình người da đỏ đi dọc theo đường mà người chồng cưỡi la đi trước, vợ chạy bộ theo sau, đầu đội đủ các loại mũ, lưng địu con nhỏ, vừa chạy vừa quấn len. Còn lừa và la thồ đầy những củi cành, cói và các loại chum vại thủng thẳng đi sau. Càng đi sâu vào miền núi này lại càng hiếm người Anh-điêng nói được tiếng Tây Ban Nha và cho đến lúc mà vốn liếng về ngôn ngữ của A-guy-ét-tô cũng không còn tác dụng nữa. Những chòi rải rác thành từng cụm đây đó ở trên núi, ít thấy xây bằng đất sét mà hầu hết là bện bằng cỏ khô và cành nhỏ. Dân vùng này, da mặt nhăn nheo và rám nắng cũng như những túp lều của họ -cho ta cảm giác như họ chui ra khỏi lòng đất bị ánh nắng nóng như thiêu như đốt rọi vào vách đá của núi ng-đơ. Họ như hòa lẫn với đất, đá, đồng cỏ vùng núi cũng chẳng khác gì cỏ cây ở đây. Dân da đỏ ở miền núi này nghèo xác xơ, vóc người nhỏ bé nhưng lại dẻo dai, khỏe như thú dữ và nhanh nhẹn, khéo tay như những dân tộc cổ xưa. Họ ít nói, lại hay cười. Những người mà chúng tôi gặp đều có nét mặt rạng rỡ và bộ răng trắng như tuyết. Không có gì chứng tỏ là người da trắng đã lợi lộc hay mất mát cái gì, dù chỉ là một xu nhỏ khi họ qua đây. Tại vùng này, tuyệt nhiên chúng tôi không thấy có một biển quảng cáo hay một cột chỉ đường; nếu ta vứt xuống lề đường một vỏ đồ hộp bằng sắt tây hay một mẩu giấy vụn thì thổ dân đến nhặt ngay và coi đó là một thứ dụng cụ gia đình quý cáu. Xe chúng tôi leo lên những con đường dốc nắng như thiêu như đốt, trơ trụi không có lấy một bụi hay bóng cây nào. Xe lại tiếp tục đổ dốc đến những thung lũng cát hoang vắng chỉ thấy những cây xương rồng, để rồi lại leo thẳng lên phía trước tới đỉnh núi cao nhất phủ tuyết trắng xung quanh và một cơn gió lạnh buốt thổi đến làm xe chúng tôi phải đi chậm lại, để áo sơ mi không bị từng mảng băng đọng lại, điều này làm cho chúng tôi luyến tiếc khí hậu nóng bức của rừng nhiệt đới. Chúng tôi phải vượt qua nhiều chặng đường dài giữa các núi non, trên các khoảng đất lởm chởm đá, mép núi có cỏ, để tìm những đoạn đường mới. Khi đến vách núi phía tây, nơi mà dãy núi ng-đơ đổ xuống đồng bằng tạo thành vách đứng thì con đường mòn chúng tôi đang đi trở nên gồ ghề, đục thành bậc thang vào vách núi đá bở. Quanh chúng tôi là vách cao dựng đứng và vực thẳm. Chúng tôi hết sức tin tưởng vào tài lái xe của anh bạn A-guy-ét-tô đang gập người lại để lái xe tránh các bờ vực nguy hiểm. Đột nhiên, một luồng gió mạnh thổi tạt vào mặt: hóa ra chúng tôi đã đến tận mỏm núi ở phía ngoài cùng, nơi mà núi hạ thấp dần xuống thành những vực sâu cho mãi đến tận vùng rừng rậm, phía dưới chúng tôi là vực sâu đến bốn nghìn mét. Tầm mắt chúng tôi bị chặn lại, không thể nhìn thấy biển cây xanh rờn ở sâu thăm thẳm đến chóng cả mặt, vì khi xe chở chúng tôi vừa tới bờ vực thì những dải mây dày bay đến vây kín chúng tôi như hơi nước thoát ra từ một chiếc nồi của mụ phù thủy. Trên đường đi xuống, không một trở ngại nào xảy ra. Xe xuống dần, qua nhiều ngoặt gấp, dọc theo khe núi và bờ vực. Càng xuống thấp, không khí càng ẩm ướt và nóng hơn từ rừng sâu thoát ra ngột ngạt oi bức. Trời bắt đầu mưa, lúc đầu còn nhỏ sau đổ xuống như trút nước, đập vào xe rào rào như tiếng trống. Từ hai bên sườn núi cạnh chúng tôi, nước thoát ra một màu nâu sẫm, chảy ào ào làm cho chúng tôi có cảm giác như đang cưỡi trên sóng, bỏ lại đàng sau những đồng bằng khô cằn, để đi vào một thế giới khác mà những cành cây, những tảng đá, những triền đất sét đều mềm nhão và phủ đầy rêu xanh. Những chiếc lá khổng lồ xuất hiện lơ lửng ở lưng đồi trông như những chiếc dù xanh ướt đẫm. Chúng tôi đã đến cửa rừng, cây cối còn thưa cùng với những chòm rễ tua dày đặc, những mảnh rêu xanh và những cây leo. Nước chảy róc rách khắp nơi.
Khi các triền dốc giảm dần thì rừng đầy cây cối đột ngột hiện ra nhiều như một đạo quân, nuốt chửng chiếc xe gíp nhỏ bé đang ì ạch lăn bánh trên đường lầy đất sét. Chúng tôi đã đến giữa rừng rậm, không khí nóng ẩm đượm mùi lá cọ, trời đã xẩm tối. Chúng tôi để xe dưới một mái chòi khô ráo, người nóng hầm hập, mồ hôi vã ra như tắm. Những bầy ruồi quấy rầy chúng tôi ở trong chòi đều bị chết đuối vì cơn mưa ngày hôm sau. Chiếc xe được chất đầy chuối và quả lạ, lại tiếp tục lên đường. Chúng tôi băng qua rừng rậm, xuống thấp nữa, nhiều lúc tưởng như đã xuống đến cuối dốc rồi. Bùn ngày càng nhiều nhưng xe vẫn tiếp tục đi và bọn cướp thì ẩn nấp quanh đâu đó. Cứ đi như vậy cho đến lúc con đường bị một dòng sông rộng đầy bùn vắt ngang, làm cho chiếc xe tiến thoái lưỡng nan, phải bỏ cuộc vì không thể nào đi ngược hay xuôi dọc theo bờ được. Chúng tôi thấy trong khu rừng thưa một cái chòi có mấy người lai Anh-điêng đang phơi một tấm da cáo lên tường. Những con chó và gia cầm thì sục sạo đây đó hoặc nằm ườn trên những đống quả ca-cao phơi ở phía ngoài. Chiếc xe gíp lắc lư bò vào đến nơi làm mọi người huyên náo. Những thổ dân nói được tiếng Tây Ban Nha cho biết đây là sông Pa-lăng và phía bờ bên kia là Ki-vê-đô. Không có một chiếc cầu nào, mà sông thì sâu, nước chảy xiết, nên họ cho rằng tốt hơn hết là giúp chúng tôi đưa cả người và xe qua sông bằng bè. Phương tiện kỳ diệu này có sẵn ở ngay bờ sông. Những thân cây cong queo to bằng bắp tay và bắp đùi được buộc lại với nhau bằng những dây rừng và tre thành một chiếc bè nguyên thủy dài, rộng bằng hai chiếc xe gíp. Lót ván xuống từng bánh xe, chúng tôi cố sức đẩy xe lên bè. Các cây gỗ của bè bị chìm sâu xuống nước bùn nhưng vẫn đủ sức để chở chúng tôi và chiếc xe, chưa kể cả bốn người thổ dân cởi trần, da nâu sạm, đang dùng những chiếc sào dài để đẩy bè đi. Héc-man và tôi cùng cất tiếng hỏi:
-Phải gỗ ban-xa không? Một người trong bọn họ, lấy chân đá vào thân cây, gật đầu xác nhận.
Dòng nước cản làm cho chiếc bè xoay tròn nhưng những người thổ dân với chiếc sào dài đã đẩy bè chếch dòng vào chỗ nước lặng. Đây là chuyến đi đầu tiên của chúng tôi trên một chiếc bè bằng gỗ ban-xa và cũng là lần đầu tiên trông thấy loại gỗ này. Chúng tôi sang được bờ bên kia và như thế là chuyến đi đến Ki-vê-đô đã thắng lợi. Hai dãy nhà gỗ quét hắc ín, cùng với những con diều hâu đậu im ở trên mái nhà lợp bằng lá cọ đã tạo thành một khung cảnh mà người ta gọi là phố và toàn thể thị trấn này chỉ có vậy thôi. Thấy chúng tôi, dân ở đây, da đen cũng như da nâu sẫm, trẻ cũng như già đều bỏ những gì đang cầm trong tay cùng ùa ra cửa và lao ra đứng trước xe ô-tô, ồn ào như ong vỡ tổ. Họ trèo lên mui, chui xuống gầm, leo lên xe, chúng tôi phải khư khư giữ chặt những thứ mang theo trong khi A-guy-ét-tô đang đánh vật một cách tuyệt vọng với tay lái. Cuối cùng, chiếc xe bị nổ lốp nghiêng về một bên. Chúng tôi đã đến và được họ tay bắt mặt mừng chào đón. Đồn điền của Đông Phê-đê-ri-cô ở gần đó về phía hạ lưu con sông. Theo con đường trồng những cây muỗm, chiếc xe gíp của chúng tôi khập khiễng đi vào trong sân cùng với Héc-man, A-guy-ét-tô và tôi. ông già Phê-đê-ri-cô, người gầy gò cùng sống với cháu là chú bé ng-giê-lô ở nơi heo hút này, đã cùng chạy ngay ra đón. Chúng tôi truyền đạt ý kiến của Đông Guýt-xta-vô cho ông, còn chiếc xe gíp nằm trơ trọi ở sân và một cơn mưa ngắn bất thần đổ xuống khu rừng. Một bữa tiệc được dọn ra tại biệt thự của Đông Phê-đê-ri-cô, nào là lợn sữa, nào là gà quay trên bếp lửa và chúng tôi ngồi quanh một khay chất đầy quả lạ. Chúng tôi trình bày cho ông rõ vì sao chúng tôi đến tận đây. Qua lưới cửa sổ, mưa rừng rất to đã thổi đến chỗ chúng tôi mùi đất sét và hoa thơm. Tuy già, nhưng Đông Phê-đê-ri-cô năng nổ như một chàng trai. Từ hồi nhỏ, ông đã hiểu biết về những chiếc bè gỗ ban-xa. Ba mươi năm trước đây, ông đã sống ở vùng bờ biển và thấy những người Anh-điêng ở Pê-ru thường ngược dòng theo bờ biển trên những chiếc bè lớn chở cá đến bán ở Ga-i-a-kin. Các bè đó có thể chở đến hai tấn cá khô chất trong lều tre ở giữa bè, có lần còn mang theo cả đàn bà, trẻ con và gà, chó. Đang giữa mùa mưa tìm được những cây lớn như họ thường dùng để đóng bè thật là khó khăn, dù đi bằng ngựa, vì khu vực trồng gỗ ban-xa ở trong rừng bị ngập lụt và bùn lầy. Đông Phê-đê-ri-cô cố gắng để giúp chúng tôi. ở khu rừng bên, gần trại có một vài cây to mọc rải rác nhưng chúng tôi lại cần nhiều. Buổi tối, mưa tạnh được một lúc, chúng tôi dạo chơi dưới những rặng cây muỗm xung quanh biệt thự. Đông Phê-đê-ri-cô có đủ các loại phong lan hoang dại trên thế giới, lủng lẳng bám vào những sọ dừa bửa đôi. Khác với phong lan trồng, các loại cây hiếm này có mùi thơm rất dễ chịu. Héc-man cúi xuống để mũi vào một bông hoa thì một vật gì dài và mảnh giống như một con lươn bóng nhẫy ló ra từ những chiếc lá trên đầu Héc-man. Nhanh như chớp, ng-giê-lô vung ngọn roi lên, con rắn quằn quại rơi xuống, và một giây sau lại một con nữa bị ng-giê-lô dùng gậy có ngạnh chẹn cổ nghiến nát đầu.
-Rắn độc, cắn chết người đấy. ng-giê-lô vừa nói vừa chỉ cho chúng tôi hai nanh độc của con rắn.
Lúc này, chúng tôi có cảm giác ở dưới những khóm lá kia chỗ nào cũng có rắn độc, nhất là trên đầu gậy của ng-giê-lô còn lủng lẳng một con rắn chết. Thế là chúng tôi nhẹ nhàng quay vào trong nhà. Trong khi Héc-man đem con rắn xanh đó ra để lột da thì Đông Phê-đê-ri-cô kể cho chúng tôi nghe những chuyện quái đản về rắn độc và những con trăn tròn to như những cái đĩa. Đột nhiên, chúng tôi nhìn thấy ở trên tường bóng hai con bò cạp khổng lồ, to bằng con tôm hùm đang hùng hổ giương càng xông vào đánh nhau. Đít chúng dựng lên, vòi độc ở đuôi con nào cũng sẵn sàng nhả nọc giết địch thủ. Hình ảnh đó thật là kinh khủng, nhưng khi chuyển cây đèn dầu sang một bên, chúng tôi mới thấy rằng đó chỉ là hai con bò cạp bình thường to bằng ngón tay đang đánh nhau ở mép bàn mà ánh đèn đã hắt bóng chúng lên tường. Đông Phê-đê-ri-cô cười và nói:
-Thôi mặc chúng. Con nọ sẽ giết con kia. Chúng ta chỉ cần con sống sót để đuổi gián trong nhà.
Các anh phải giắt màn cho kỹ xung quanh giường nằm. Ngay cả trước khi mặc quần áo cũng phải giũ cẩn thận thì mới yên tâm. Tôi đã bị bò cạp cắn hai lần, nhưng tôi vẫn không chết. Tôi ngủ ngon nhưng mỗi lần tiếng kêu ầm ĩ của con tắc kè và những con dơi lại làm tôi thức giấc và nghĩ đến những con quái vật có nọc độc đó. Sáng hôm sau. Chúng tôi thức giấc với bao ý nghĩ hào hứng sẽ cố gắng đi tìm xem có thấy được gỗ ban-xa thì A-guy-ét-tô nhắc chúng tôi:
-Tốt hơn hết là hãy giũ quần áo đi đã.
Trong khi A-guy-ét-tô nói như vậy, thì một con bò cạp từ tay áo sơ-mi của anh rơi xuống đất. Nhanh như mũi tên, nó chui ngay vào khe sàn nhà. Một lúc sau, khi mặt trời mọc, Đông Phê-đê-ri-cô cho người và ngựa đi khắp các ngả, dọc theo các đường để tìm các cây gỗ có thể dùng được. Nhóm chúng tôi gồm Đông Phê-đê-ri-cô, Héc-man và tôi. Chúng tôi nhanh chóng đến khu rừng thưa mà Đông Phê-đê-ri-cô biết có một cây gỗ khổng lồ đã lâu đời. Vượt lên trên tất cả các cây mọc xung quanh, thân cây gỗ ban-xa này có đường kính gần một mét. Theo phong tục của những đảo ở Thái Bình Dương, trước khi hạ cây phải đặt tên nên chúng tôi gọi cây đó là KOU, tên một vị thần Pô-li-nê-di gốc châu Mỹ. Chúng tôi vung rìu lên và khu rừng vang lên giòn giã tiếng rìu chặt cây. Thà rằng chặt cây li-e bằng một lưỡi rìu cùn còn hơn là chặt cây gỗ ban-xa đầy nhựa này. Bổ vào cây, lưỡi rìu lại bật trở lại và tôi đã bổ không biết bao nhiêu nhát. Héc-man phải thay tôi và cứ như vậy chúng tôi lần lượt thay nhau cầm rìu chặt cây. Các mảnh gỗ bay ra xung quanh, còn chúng tôi thì mồ hôi nhễ nhại với cái nóng oi ả của rừng rậm nhiệt đới. Đến hết ngày, cây gỗ mới rung rinh khi bị rìu chặt vào, giống như con gà trống đứng có một chân và cuối cùng cây gỗ mới nặng nề đổ xuống kéo theo cả những cành và cây nhỏ gần đấy. Chúng tôi chặt trụi các cành để trơ thân cây và bắt đầu bóc vỏ theo đường chữ chi như cách làm của người da đỏ. Bỗng nhiên Héc-man buông rơi rìu khỏi tay và nhảy cẫng lên, như biểu diễn một điệu nhảy chiến đấu của dân Pô-li-nê-di, tay bóp chặt lấy đùi và từ trong quần rơi ra một con kiến bóng nhẫy to bằng con bò cạp, với một cái nọc dài ở đuôi. Con kiến này hẳn có một cái vỏ như tôm hùm vì chúng tôi phải khó khăn lắm mới nghiền được nó bằng gót chân.
-Đó là con Công-gô,
-Đông Phê-đê-ri-cô hơi khó chịu nói tiếp
-con vật nhỏ bé bẩn thỉu này còn ghê tởm hơn bò cạp. Đối với người khỏe, nó đốt thì không nguy hiểm. Chân Héc-man bị sưng tấy nhưng điều đó cũng không ngăn nổi anh cùng chúng tôi cưỡi ngựa theo các đường mòn trong rừng để tìm những cây gỗ ban-xa lớn. Thỉnh thoảng, những tiếng răng rắc tiếp theo là tiếng cây đổ nặng nề ở đâu đó trong rừng hoang vu làm Đông Phê-đê-ri-cô gật đầu thỏa mãn. Điều đó có nghĩa là những thổ dân đã hạ được thêm những cây gỗ ban-xa lớn cho việc đóng bè. Chỉ trong một tuần lễ đã hạ được mười hai cây ban-xa lớn. Tất cả đều được đặt tên các nhân vật thần thoại Pô-li-nê-di trong đó có tên những nhân vật nguồn gốc ở Pê-ru từ thời xa xưa đã cùng Ti-ki vượt biển. Các thân cây đầy nhựa được ngựa kéo về đến đoạn đường cuối cùng thì Đông Phê-đê-ri-cô cho xe bánh xích chở đến bờ sông ở phía trước trại. Các thân cây này không thể nhẹ bằng gỗ li-e được. Mỗi cây nặng khoảng một tấn và chúng tôi rất nôn nóng muốn xem các cây gỗ đó nổi trên mặt nước như thế nào. Chúng tôi đẩy từng cây một đến mép bờ sông, dùng loại dây rừng chắc buộc vào từng đầu thân cây để khi đưa xuống nước không bị dòng nước cuốn đi. Sau đó chúng tôi đem lăn tất cả xuống sông. Các cây gỗ lăn tròn trên mặt nước, nửa chìm nửa nổi khi chúng tôi giẫm chân lên trên cũng không chìm bao nhiêu. Chúng tôi chặt những sợi dây leo để buộc các cây gỗ lại với nhau tạm thời thành hai chiếc bè, chiếc nọ kéo chiếc kia. Trên hai chiếc bè đó, chúng tôi chất lên tất cả những cây tre và dây leo để chằng buộc sau này. Cùng đi với Héc-man và tôi còn có hai thổ dân lai gốc dân tộc nào không rõ nên chúng tôi không thể dùng một ngôn ngữ chung để trao đổi với họ.
Sau khi cắt đứt dây neo để giữ bè, chiếc bè bị cuốn vào dòng nước xoáy sau đó xuôi nhanh theo dòng nước. Đi vòng qua khúc ngoặt của dòng sông, chúng tôi nhìn thấy qua làn bụi nước do sóng vỗ, những bạn bè thân thiết đang đứng trên mỏm đất ở trước trại vẫy chào từ biệt. Sau đó, chúng tôi vào trong túp lều con dựng trên bè lợp bằng lá chuối còn tươi, phó mặc việc lèo lái chiếc mảng cho hai người thuyền chài địa phương da ngăm ngăm rất thông thạo: một đứng phía mũi, một đứng phía đuôi, mỗi người cầm một mái chèo to. Vẻ uể oải hững hờ, họ điều khiển dễ dàng chiếc bè vượt qua những khúc mà dòng nước chảy thật xiết và chúng tôi bị chao đảo, nghiêng ngả như đang khiêu vũ giữa những cây gỗ ngập nước và các bãi cát bồi của dòng sông. Hai bên bờ sông là rừng rậm bạt ngàn sừng sững như bức tường kiên cố. Những con vẹt và rất nhiều loài chim màu sắc sặc sỡ từ các rặng lá bay ùa ra khi chúng tôi đi qua. Một đôi lần, một con cá sấu từ trên bờ lao xuống sông biến đi trong lớp nước bùn. Nhưng sau đó, chúng tôi gặp một con quái vật thích thú hơn nhiều. Đó là con kỳ đà hoặc còn gọi là thằn lằn khổng lồ, to như cá sấu. Cổ rất to, lưng có gai như răng cưa, nằm lim dim trên bờ đất sét, trông tưởng như nó nằm ngủ ở đây từ thời tiền sử. Khi chúng tôi đi qua, nó không chút động đậy. Hai người thổ dân ra hiệu cho chúng tôi đừng bắn. Một lúc sau, chúng tôi lại thấy một con nhỏ hơn, dài chừng một mét. Thấy chúng tôi, nó bò vội để lẩn mình trên một cành cây to vươn ra tận chiếc bè. Mình nó bóng nhẫy, màu xanh biếc, giương cặp mắt lạ lùng như mắt rắn nhìn chúng tôi đi qua. Sau này khi đi dọc theo một ngọn đồi phủ đầy cây dương xỉ, chúng tôi lại trông thấy ở trên đỉnh đồi một con kỳ đà, có thể nói là to nhất, đứng sừng sững bất động giữa trời.
Ngực và đầu nó vươn cao lên trông như một con rồng chạm trổ của Trung Quốc. Khi chúng tôi đi vòng sát ngọn đồi, nó vẫn không hề cựa quậy.Xa hơn về phía hạ lưu, chúng tôi ngửi thấy mùi khói bốc ra từ những mái chòi lợp rạ ở những khu rừng thưa trên bờ sông. Chúng tôi, dân trên bè trở thành mục tiêu cho sự tò 97 98 Prev Page 13 Nextmò của thổ dân ở đây. Khi thấy chúng tôi, những người dân lai da đỏ, da đen và Tây Ban Nha có vẻ như có điều gì lo lắng. Thuyền của họ để ở trên bờ sông. Đó là một loại thuyền độc mộc làm bằng thân cây khoét rỗng. Đến giờ ăn, chúng tôi ra lái thay cho hai người thổ dân để họ nấu cá và hạt mít trên một cái bếp mà ngọn lửa được điều chỉnh bằng đất sét ướt. Trong các bữa ăn trên bè chúng tôi có khi còn có cả gà quay, trứng và các hoa quả lạ ở vùng này. Các cây gỗ ghép thành bè vẫn tiếp tục chở chúng và chở cả chúng tôi xuôi ra biển. Nếu bây giờ nước mưa có đổ xuống tí tách quanh chúng tôi cũng chẳng hề gì vì càng mưa thì dòng nước lại càng chảy xiết và bè xuôi càng nhanh.
Khi màn đêm buông xuống trên sông, từ trên bờ vọng lại một bản hòa tấu inh tai nhức óc: cóc, ếch, nhái, ễnh ương, dế mèn và muỗi tất cả đều kêu, hát, hay rít lên thành một bản hợp ca không ngừng của muôn vàn âm thanh. Đôi khi còn nghe thấy tiếng gào như chọc thủng màn đêm của mèo rừng, tiếp đó là những tiếng kêu ríu rít sợ hãi của chim muông bị bày thú rừng đi ăn đêm săn đuổi. Đôi lúc cũng thoáng thấy ánh lửa yếu ớt hắt ra từ một cái chòi cùng những tiếng kêu và chó sủa, còn phần lớn thời gian chúng tôi thường ngồi trơ trọi dưới vòm sao cùng với dàn nhạc giao hưởng của núi rừng. Chỉ khi trời mưa hoặc buồn ngủ, chúng tôi mới chịu chui vào lều để chợp mắt cùng với khẩu súng lục luôn luôn sẵn sàng nhả đạn. Càng đi xuôi xuống, chúng tôi thấy nhiều chòi hơn cùng những vạt đất đai trồng trọt của dân địa phương. Dần dần ở hai bên bờ sông đã xuất hiện những làng xóm thực sự. Việc đi lại trên sông thường dùng thuyền độc mộc đẩy bằng những cây sào dài, một đôi nơi, chúng tôi còn trông thấy những chiếc bè chở đầy những buồng chuối hãy còn xanh. ở nơi con sông Pa-lăng đổ vào sông Ga-i-a, nước ở đây rất sâu, thuận lợi cho tàu thủy chạy guồng đi từ Vanh-xơ đến Ga-i-a-kin. Tranh thủ thời gian quý cáu, Héc-man và tôi chuyển lên đi tàu thủy, thuê hai chiếc võng để nằm ở trên tàu, chạy qua nhiều đồng bằng đông đúc này là chúng tôi đến nơi. Hai anh bạn da nâu đẩy bè theo sau, trông coi việc chuyên chở số gỗ đó để dùng vào việc đóng bè. Đến Ga-i-a-kin, Héc-man và tôi chia tay nhau. Héc-man ở lại cửa sông Ga-i-a để đón bè gỗ ban-xa thả trôi về.
Sau đó chuyển gỗ lên tàu chạy ven chở đi Pê-ru và ở đó anh sẽ điều khiển việc đóng bè -một chiếc bè giống hệt của người da đỏ cổ xưa thường dùng. Còn tôi sẽ đáp máy bay của đường hàng không phía nam đến Li-ma, thủ đô Pê-ru chọn địa điểm thuận lợi cho việc đóng bè. Máy bay bay trên độ cao khá lớn trên bờ Thái Bình Dương. Một bên là những núi non hoang vu của đất nước Pê-ru, một bên là đại dương lấp lánh ở dưới chúng tôi một khoảng cách khá lớn. Đây sẽ là nơi chúng tôi đáp bè để ra đi. Nhìn từ trên máy bay, biển bao la như vô tận. Xa xa, rất xa về phía tây, trời và nước như hòa với nhau ở đường chân trời và tôi không thoát được ý nghĩ rằng sau đường chân trời kia có hàng trăm biển giống nhau lồi ra lõm vào, bao quanh phần đại dương diện tích bằng một phần năm của trái đất trước khi xuất hiện dải đất đầu tiên của Pô-li-nê-di. Tôi cố gắng hướng mọi ý nghĩ về tương lai, khi mà chỉ mấy tuần nữa chúng tôi sẽ trôi lênh đênh trên chiếc bè, trên biển cả bao la xanh biếc, và tôi lại cố xua đuổi ý nghĩ này đã làm cho tôi đau thắt ở dạ dày, giống như trước kia khi bắt đầu nhảy dù. Đến Li-ma, tôi đáp tàu điện đến ngay cảng Ca-lao để tìm địa điểm đóng bè. Cảng lúc này đầy tàu bỏ neo, cần cẩu và kho hàng, chưa kể đến những kho hàng của thuế quan và các văn phòng của ban quản trị. Các bãi biển gần đó cũng rất đông người, như vậy rất có thể có những kẻ tò mò đến phá phách chiếc bè và các trang bị, ngay khi chúng tôi vắng mặt. Ca-lao hiện nay là cảng quan trọng nhất của một đất nước có bảy triệu dân cả da trắng và da đen. Không như ở -cu-a-đo, ở Pê-ru đóng một chiếc bè là một việc lạ lùng vì vậy tôi thấy chỉ ở mỗi một cách là làm thế nào lọt được vào phía trong những bức tường bê tông lớn của quân cảng. ở đây có quân lính mang vũ khí, canh gác các cổng ra vào bằng sắt, luôn luôn nghi ngờ, giám sát và hăm dọa đối với tôi hay bất cứ ai không được phép mà lảng vảng quanh những bức tường này.
Nếu được phép vào trong đó là chúng tôi thoát được. Trước đây ở Oa-sinh-tơn, tôi đã gặp tùy viên hải quân của Pê-ru và được ông ta viết cho một lá thư giới thiệu. Sáng mai tôi sẽ mang thư đến Bộ hải quân để xin được gặp Bộ trưởng Ma-nu-en Ni-ê-tô. ông tiếp khách vào buổi sáng trong một phòng khách lịch sự bày biện đồ đạc kiểu thời đế chế, sáng loáng những gương lớn đặt trên tường và trang trí thiếp vàng. Một lúc sau, ông xuất hiện trong bộ quân phục đại lễ. Đó là một người mập mạp, thấp, vẻ cứng nhắc như Na-pô-lê-ông, giọng ông dứt khoát và mạch lạc. ông hỏi tôi về lý do đến gặp ông và tôi đã trình bày lý do của việc này và xin ông cho phép được sử dụng địa điểm của công trường hải quân để đóng bè. Với một vẻ khó chịu, vừa nói ông vừa gõ ngón tay xuống bàn:
-Anh bạn trẻ! Đáng lẽ đến đây anh phải qua cửa chính nhưng anh lại vào bằng cửa sổ. Tôi sẵn sàng giúp anh, nhưng tôi phải nhận được lệnh về việc này của Bộ ngoại giao. Tôi không thể nào để cho người nước ngoài vào tận xưởng sửa chữa, đóng tàu của hải quân chúng tôi để tự ý đặt công trường. Anh hãy viết đơn gửi lên bộ trưởng Bộ ngoại giao. Chúc anh may mắn! Tôi lo ngại nghĩ đến nạn thủ tục giấy tờ đi lại để cuối cùng chả đâu vào đâu, tan thành mây khói. Hạnh phúc trong những ngày gian khổ khó khăn thời xưa, Công ti-ki chưa hề biết đến những thủ tục đơn từ phức tạp này. Được Bộ ngoại giao chấp nhận, không phải là một chuyện dễ dàng mà đầy khó khăn: Na Uy chưa có đại sứ của mình ở Pê-ru và mặc dù ông tổng lãnh sự của chúng tôi rất sốt sắng, cũng không thể đưa tôi vào gặp các viên chức của Bộ ngoại giao được. Tôi lo ngại công việc đến đây sẽ phải giậm chân tại chỗ mất. Bức thư giới thiệu của Cô-hen gửi cho tổng thống nước cộng hòa Pê-ru lúc này sẽ giúp ích cho tôi. Qua sĩ quan cận vệ, tôi đề nghị xin gặp tổng thống Pê-ru, Giô-dê Buýt-xta-man-tê Ri-vê-rô. Mấy hôm sau, tôi được triệu tập đến dinh tổng thống vào buổi trưa. Li-ma là một thành phố hiện đại, với nửa triệu dân, nằm trên một đồng bằng xanh tươi, dưới chân những ngọn núi hoang vu. Về mặt kiến trúc, nhất là với những khu vườn và đồn điền, chắc chắn đó là một trong những thủ đô đẹp nhất thế giới, tựa như một phần của Cốt Đa-duya hay của Ca-li-phoóc-ni, hiện đại xen kẽ với kiến trúc cổ kính thời xưa, của Tây Ban Nha.
Dinh tổng thống ở trung tâm thành phố, có lính gác quân phục màu rực rỡ. ở Pê-ru, xin được yết kiến tổng thống là quốc sự, ít người được gặp tổng thống, trừ phi trên màn ảnh. Hai quân nhân đeo ngù sáng loáng dẫn tôi qua các bậc thang đến đầu một hành lang. ở đây, ba người mặc thường phục ghi tên tôi vào sổ và tôi được đưa qua một cái cửa rộng lớn làm bằng gỗ sồi và một gian phòng có kê một bàn dài và những dãy ghế bành. Một người y phục màu trắng tiếp tôi, mời tôi ngồi rồi biến đi. Một lát sau, cánh cửa lớn được mở ra, tôi được đưa vào một gian phòng lộng lẫy hơn, một người dáng bệ vệ trong bộ quân phục rất đĩnh đạc, đến gặp tôi. Tôi đứng thẳng dậy và tự nghĩ có lẽ đây là tổng thống. Nhưng không phải. Người mặc quân phục lon vàng lấp lánh mời tôi ngồi xuống một chiếc ghế bành kiểu cổ có tựa lưng thẳng và rồi người ấy cũng lại biến mất. Mới ngồi được chừng một phút thì cánh cửa mở, một người phục vụ cúi chào, dẫn tôi sang một gian phòng lớn sơn son thiếp vàng với những bàn ghế lộng lẫy tráng lệ. Người phục vụ đã lủi nhanh như khi anh ta xuất hiện, để tôi ngồi một mình trên một ghế bành có lưng tựa kiểu cổ. Qua các cửa mở ở trước mặt, tôi thấy một dãy buồng vắng ngắt. Tất cả đều im phăng phắc.
Một tiếng ho nhỏ kín đáo từ những phòng xa xa cũng nghe rõ. Có tiếng chân đĩnh đạc đi tới, tôi vụt đứng dậy với vẻ ngập ngừng để chào một ông mặc quân phục dáng dấp bệ vệ đang tiến về phía tôi. Thì ra cũng vẫn chưa phải là tổng thống. Tôi cũng đoán được ông này định nói gì, đại khái ông nói rằng tổng thống chuyển lời chào đến tôi, chỉ trong lát nữa hội nghị với các bộ trưởng sẽ kết thúc, lúc đó tổng thống sẽ tiếp tôi. Mười phút sau, có tiếng nhẹ nhàng đi tới, lại phá tan sự yên lặng ở đây một lần nữa, lần này thì một ông mang quân hàm, đeo ngù vàng tiến vào. Tôi vội vàng đứng dậy trịnh trọng chào. ông cũng trịnh trọng cúi người thấp hơn để chào lại và sau khi dẫn tôi qua rất nhiều phòng, bước lên thang gác có trải thảm êm, tôi được đưa vào một căn phòng nhỏ, đồ đạc chỉ có một chiếc ghế bành và một chiếc ghế dài có tựa bằng da. Một ông nhỏ bé mặc trắng bước vào. Tôi kiên nhẫn tự hỏi ông này còn định dẫn tôi đi đến đâu nữa đây. ông ta không dẫn tôi đi đâu cả mà lại thân mật chào tôi và vẫn đứng nguyên: đó là tổng thống Buýt-xta-man-tê Ri-vê-đô. Vốn tiếng Anh của tổng thống chỉ gấp đôi vốn tiếng Tây Ban Nha ít ỏi của tôi. Sau khi chào hỏi nhau như thường lệ, ông ra hiệu mời tôi ngồi và vốn liếng ngôn ngữ chung của chúng tôi đã cạn. Người ta có thể diễn đạt nhiều việc bằng cách ra hiệu hay bằng điệu bộ, nhưng lại không thể làm như vậy đối với việc xin phép đóng bè ở trong một quân cảng ở Pê-ru. Tôi đoán là tổng thống không hiểu tôi nói gì và bản thân ông ấy cũng thấy rõ điều đó, nên ông ra ngoài một lúc và trở lại cùng với một vị bộ trưởng không quân. Đó là tướng Rê-vê-rê-đô, một con người vạm vỡ, dáng thể thao, mặc bộ quân phục không quân, trên ngực đính đôi cánh biểu thị của quân chủng. ông nói tiếng Anh rất thạo, giọng Mỹ. Tôi xin lỗi về sự hiểu lầm và nói lại rằng tôi không có ý định đóng bè ở sân bay quân sự mà là quân cảng. Tướng Rê-vê-rê-đô cười và nói cho tôi rõ là ông được gọi đến đây để làm phiên dịch. Thế rồi, cứ từng đoạn một luận thuyết của tôi được phiên dịch cho tổng thống nghe. ông nghe rất chăm chú và qua tướng Rê-vê-rê-đô, ông đặt ra nhiều câu hỏi rất xác đáng và cuối cùng ông nói:
-Nếu đúng như là các đảo ở Thái Bình Dương trước hết là do người Pê-ru khám phá thì nước Pê-ru phải quan tâm đến cuộc hành trình này. Hãy cho tôi biết chúng tôi có thể giúp gì cho các ông, chúng tôi sẽ cố gắng thực hiện.
Tôi xin một địa điểm trong khu vực doanh trại quân đội, ở đó tôi xin phép được đóng bè, ra vào công trường và mọi sự dễ dàng trong việc nhập cảng những trang thiết bị, cùng một kho để chứa các trang thiết bị đó, được sử dụng một khu đóng tàu bè, được sự giúp đỡ của nhân viên hải quan và một tàu dắt bè ra khơi, khi cuộc hành trình bắt đầu. Theo sự phỏng đoán của tôi qua dáng điệu của tổng thống, tôi thấy với vẻ nôn nóng, tổng thống hỏi người phiên dịch:
-Anh ấy đề nghị gì?
-Không có gì lớn lắm! Rê-vê-rê-đô nháy mắt nhìn tôi và trả lời tổng thống. Tỏ vẻ hài lòng, tổng thống gật đầu chấp nhận. Trước khi kết thúc buổi tiếp kiến, Rê-vê-rê-đô hứa là ngay trong ngày hôm nay bộ trưởng Bộ ngoại giao sẽ nhận được chỉ thị riêng của tổng thống và bộ trưởng hải quân Ni-ê-tô sẽ được quyền tự do giúp đỡ chúng tôi như yêu cầu. Tướng Rê-vê-rê-đô vừa cười vừa lắc đầu nói với chúng tôi:
-Trời phù hộ cho tất cả các anh. Sau đó, một người thư ký dẫn tôi đến bên người sĩ quan cận vệ đang chờ tôi. Ngày hôm ấy, các cáo chí ở Li-ma đã đưa tin về một cuộc thám hiểm của Na Uy trên một chiếc bè sẽ bắt đầu đi từ Pê-ru. Cùng ngày hôm đó, các cáo chí còn đưa tin về cuộc thám hiểm khoa học của Thụy Điển
-Phần Lan đã hoàn thành việc nghiên cứu dân da đỏ vùng rừng hoang vu ở A-ma-dôn. Hai thành viên Thụy Điển của đoàn thám hiểm đó đã đi xuống đến Pê-ru và vừa tới Li-ma.
Một người tên là Ben Đa-ni-en-xân ở Trường đại học ớp-xôn, ông sẽ nghiên cứu về dân da đỏ miền núi ở Pê-ru. Tôi cắt lấy bản tin đó. Từ khách sạn, tôi đang viết thư cáo cho Héc-man về vấn đề cần thiết cho việc đóng bè thì có tiếng gõ cửa. Người bước vào là một thanh niên mặc một bộ đồ bằng vải mềm trắng, da sạm nắng. Chiếc mũ cứng được bỏ ra, người ta có cảm tưởng là bộ râu vàng hoe như
|